Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Tuổi vợ chồng phạm Lục Sát là gì? Cách tra cặp tuổi và cách cân nhắc

1 tháng 11, 2026 15 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Tuổi vợ chồng phạm Lục Sát là gì, tra thế nào? Bài cho bảng tra theo năm sinh chồng, vợ (1960–2010), nói rõ sách cổ ghi gì về Lục Sát và phép ghép cung. Cần xem kỹ cho đôi bạn, Viện xem riêng.

Điểm chính

  • Bốn cặp Cung Phi phạm Lục Sát: Càn – Khảm, Đoài – Tốn, Ly – Khôn, Chấn – Cấn.
  • Tra nhanh ở Bảng 2: tìm năm sinh chồng, xem vợ có sinh vào một trong các năm ghi bên cạnh không.
  • So Cung Phi thì gọi là Lục Sát; so Cung Cưới thì cùng cặp ấy gọi là Du Hồn.
  • Sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chép phép ghép cung vợ chồng vào quyển Biện ngoa để bác[2].
  • Năm rơi Trung cung (5), hay muốn biết nên làm gì khi phạm: Viện xem riêng.

01Tuổi vợ chồng phạm Lục Sát là gì?

Là khi Cung Phi chồng và Cung Phi vợ ghép nhau ra sao Lục Sát theo phép Đại du niên, tức rơi vào một trong bốn cặp ở Bảng 1.

Đại du niên (大遊年, phép lật quẻ tính tám sao) là phép nhà xem nhà dùng. Sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư viết: «Đại du niên biến quái: nhà xem tướng nhà dùng phép này»[1].

大遊年變卦,相宅家用之。

Phép này lấy quẻ của một cung, lật lần lượt từng hào ra tám sao theo thứ tự Tham Lang, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Văn Khúc, Lộc Tồn, Cự Môn, Phá Quân, Phụ Bật. Sao thứ tư là Văn Khúc; sách ghi «Văn Khúc giống Tiểu du niên, lại gọi là Lục Sát»[1].

文曲與小遊同,又曰六煞。

Từ quẻ Càn lật đủ tám bước, Viện tính lại bằng code ra đúng dãy sách ghi: Đoài, Chấn, Khôn, Khảm, Tốn, Cấn, Ly, Càn. Bước thứ tư ra Khảm, nên Càn với Khảm là Lục Sát. Lật hào trên và hào dưới của mỗi quẻ ra đủ bốn cặp:

Trích Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư

«Càn lật hào trên và hào dưới thành Khảm, Khảm lật hào trên và hào dưới thành Càn; Đoài thành Tốn, Tốn thành Đoài; Ly thành Khôn, Khôn thành Ly; Chấn thành Cấn, Cấn thành Chấn… Nên Tiểu du niên cho là Du Hồn; Đại du niên thì vì đó là biến thứ sáu của quẻ bản cung nên là Lục Sát; đều không tốt.»

乾上下二爻變為坎,坎上下二爻變為乾;兌上下二爻變為巽,巽上下二爻變為兌;離上下二爻變為坤,坤上下二爻變為離;震上下二爻變為艮,艮上下二爻變為震。……故小遊年以為遊魂,大遊年則以其為本宫卦第六變,故為六煞,皆不吉也。

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 2 «Bản nguyên», tờ 50b, bản Văn Uyên Các[1] · xem bản gốc
Bảng 1. Bốn cặp Cung Phi phạm Lục Sát (đổi chiều vẫn vậy)
CặpCung nhóm TâyCung nhóm Đông
1Càn (乾)Khảm (坎)
2Đoài (兌)Tốn (巽)
3Khôn (坤)Ly (離)
4Cấn (艮)Chấn (震)

Vì sao Lục Sát thuộc nhóm hung? Sách chia tám cung thành hai nhóm: Càn, Đoài, Cấn, Khôn là nhóm Tây; Ly, Chấn, Tốn, Khảm là nhóm Đông. Sách viết «Đông, Tây mỗi bên tự phối là cát, giao lẫn nhau phối là hung»[1]. Cả bốn cặp Lục Sát đều là một cung Tây ghép một cung Đông, tức «giao lẫn».

東西各自相配為吉,交錯相配為凶。

Bốn cặp Lục Sát sinh ra khi lật hào dưới và hào trên của quẻ Mỗi quẻ có ba hào. Giữ nguyên hào giữa, đổi hào dưới và hào trên (liền thành đứt, đứt thành liền) thì quẻ này thành quẻ kia. Càn (ba hào liền) lật hào dưới và hào trên thành Khảm; Đoài thành Tốn; Ly thành Khôn; Chấn thành Cấn. Làm ngược lại cũng ra đúng cặp cũ, nên đổi chiều vẫn vậy. Bốn cặp Lục Sát từ đâu ra Giữ hào giữa, lật hào dưới và hào trên: quẻ này thành quẻ kia Hào đỏ là hào bị lật Càn (乾)lật 2 hàoKhảm (坎) Đoài (兌)lật 2 hàoTốn (巽) Ly (離)lật 2 hàoKhôn (坤) Chấn (震)lật 2 hàoCấn (艮) Chiều nào cũng ra đúng cặp ấy, nên vợ chồng đổi chỗ vẫn vậy.
Hình 1. Bốn cặp Lục Sát hiện ra khi lật hào dưới và hào trên của mỗi quẻ: Càn thành Khảm, Đoài thành Tốn, Ly thành Khôn, Chấn thành Cấn. Hình minh hoạ.

Bốn cặp trên khớp bảng Bát Trạch của Viện ở cả tám cung, cùng bảng dùng cho bài tuổi vợ chồng theo cung phi.

02Cách tra Lục Sát theo năm sinh vợ chồng?

Tìm năm sinh của chồng ở cột trái Bảng 2; nếu năm sinh của vợ nằm ở cột phải cùng hàng thì hai người phạm Lục Sát.

  1. 1Tìm năm sinh chồngDò cột «Chồng sinh năm» ở Bảng 2; cột giữa cho biết Cung Phi của chồng.
  2. 2Đọc sang cột phảiĐó là các năm sinh của vợ (1960–2010) có Cung Phi ghép với chồng ra Lục Sát.
  3. 3Đối năm sinh vợCó trong cột phải: phạm Lục Sát. Không có: không phạm Lục Sát theo Cung Phi.
  4. 4Một bên rơi Trung cung (5)Bảng không gán cung cho năm ấy, không tra được ở đây: nhờ Viện xem riêng.
Bảng 2. Chồng sinh năm nào, vợ sinh năm nào thì phạm Lục Sát (Cung Phi, 1960–2010)
Chồng sinh nămCung chồng → cung vợVợ sinh năm (phạm Lục Sát)
1967, 1976, 1985, 1994, 2003Càn → Khảm1968, 1977, 1986, 1995, 2004
1966, 1975, 1984, 1993, 2002Đoài → Tốn1962, 1971, 1980, 1989, 1998, 2007
1964, 1973, 1982, 1991, 2000, 2009Ly → Khôn1960, 1969, 1978, 1987, 1996, 2005
1961, 1970, 1979, 1988, 1997, 2006Chấn → Cấn1966, 1975, 1984, 1993, 2002
1960, 1969, 1978, 1987, 1996, 2005Tốn → Đoài1965, 1974, 1983, 1992, 2001, 2010
1963, 1972, 1981, 1990, 1999, 2008Khảm → Càn1964, 1973, 1982, 1991, 2000, 2009
1965, 1974, 1983, 1992, 2001, 2010Cấn → Chấn1961, 1970, 1979, 1988, 1997, 2006
1962, 1971, 1980, 1989, 1998, 2007Khôn → Ly1967, 1976, 1985, 1994, 2003
1968, 1977, 1986, 1995, 2004Chồng: Trung cung (5)Không tra được ở đây

Ví dụ: chồng sinh 1990 (Canh Ngọ) thuộc cung Khảm. Vợ sinh 1991 (Tân Mùi) thuộc cung Càn. Năm 1991 có trong cột phải hàng Khảm → Càn, nên hai người phạm Lục Sát theo Cung Phi.

Năm vợ rơi Trung cung (5): 1963, 1972, 1981, 1990, 1999, 2008. Bộ máy của Viện ghi «Trung cung (5)», không gán cung, nên năm này không có trong cột phải. Cung Phi theo năm sinh cộng tuổi như công cụ của Viện.

Xem Cung Phi nam, nữ theo năm sinh 1960–2010
Cung Phi theo năm sinh 1960–2010
Năm sinhCan chiNamNữ
1960Canh TýTốnKhôn
1961Tân SửuChấnChấn
1962Nhâm DầnKhônTốn
1963Quý MãoKhảmTrung cung (5)
1964Giáp ThìnLyCàn
1965Ất TỵCấnĐoài
1966Bính NgọĐoàiCấn
1967Đinh MùiCànLy
1968Mậu ThânTrung cung (5)Khảm
1969Kỷ DậuTốnKhôn
1970Canh TuấtChấnChấn
1971Tân HợiKhônTốn
1972Nhâm TýKhảmTrung cung (5)
1973Quý SửuLyCàn
1974Giáp DầnCấnĐoài
1975Ất MãoĐoàiCấn
1976Bính ThìnCànLy
1977Đinh TỵTrung cung (5)Khảm
1978Mậu NgọTốnKhôn
1979Kỷ MùiChấnChấn
1980Canh ThânKhônTốn
1981Tân DậuKhảmTrung cung (5)
1982Nhâm TuấtLyCàn
1983Quý HợiCấnĐoài
1984Giáp TýĐoàiCấn
1985Ất SửuCànLy
1986Bính DầnTrung cung (5)Khảm
1987Đinh MãoTốnKhôn
1988Mậu ThìnChấnChấn
1989Kỷ TỵKhônTốn
1990Canh NgọKhảmTrung cung (5)
1991Tân MùiLyCàn
1992Nhâm ThânCấnĐoài
1993Quý DậuĐoàiCấn
1994Giáp TuấtCànLy
1995Ất HợiTrung cung (5)Khảm
1996Bính TýTốnKhôn
1997Đinh SửuChấnChấn
1998Mậu DầnKhônTốn
1999Kỷ MãoKhảmTrung cung (5)
2000Canh ThìnLyCàn
2001Tân TỵCấnĐoài
2002Nhâm NgọĐoàiCấn
2003Quý MùiCànLy
2004Giáp ThânTrung cung (5)Khảm
2005Ất DậuTốnKhôn
2006Bính TuấtChấnChấn
2007Đinh HợiKhônTốn
2008Mậu TýKhảmTrung cung (5)
2009Kỷ SửuLyCàn
2010Canh DầnCấnĐoài

Hai bạn phạm Lục Sát, một bên rơi Trung cung, hay sinh vào tháng Chạp, tháng Giêng và chưa chắc năm sinh tính theo năm nào: Viện xem riêng cho đôi bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem tuổi vợ chồng

03Lục Sát trong xem tuổi vợ chồng gồm những loại nào?

Chỉ có một bộ bốn cặp cung, nhưng mang hai tên: so Cung Phi gọi là Lục Sát, so Cung Cưới gọi là Du Hồn.

Hai tên đến từ hai phép lật quẻ trong cùng một sách. Đại du niên là phép nhà xem nhà dùng, gọi cặp ấy là Lục Sát. Tiểu du niên (小遊年) là phép mà sách ghi «đời sau mượn dùng để hợp hôn theo sinh mệnh nam nữ»[1], gọi cùng cặp ấy là Du Hồn (遊魂, hồn đi lang thang). Sách nói cả hai đều không tốt (xem trích ở phần 01).

後世借以為男女生命合婚之用。

Bảng 3. Cùng bốn cặp cung, hai cách gọi
Bạn đang soPhép lật quẻTên của bốn cặp Càn – Khảm, Đoài – Tốn, Ly – Khôn, Chấn – Cấn
Cung Phi chồng với Cung Phi vợĐại du niên (tên Bát Trạch)Lục Sát
Cung CướiTiểu du niên (bộ Qui Hồn, Du Hồn, Thiên Y, Giao Chiến, Tuyệt Thể, Tuyệt Mạng, Phúc Đức, Sinh Khí)Du Hồn

Viện giữ đúng tên theo phép: so Cung Phi thì dùng tên Bát Trạch, gọi là Lục Sát. Công cụ Hôn Nhân của Viện ghép hai cung theo Đại du niên, chỉ đổi sang bộ tên Cung Cưới; ở đó «Du Hồn» ứng với «Lục Sát». Thấy nơi này ghi Lục Sát, nơi kia ghi Du Hồn cho cùng đôi tuổi là chuyện tên gọi, không phải hai kết quả trái nhau.

04Phạm Lục Sát có nên cưới không?

Sách đã kiểm không gắn Lục Sát với hôn nhân; Thông Thư xếp cặp này (tên Du Hồn) bậc trung, còn sách bác chính phép ghép cung vợ chồng.

Thông Thư dẫn lời gán cho Lã Tài: gặp Tuyệt Thể, Du Hồn, Quy Hồn là bậc trung; «việc hôn nhân lẽ không có mười phần trọn, trung bình cũng là tốt»[2]. Đoạn này nằm ở quyển 36 «Biện ngoa» (辨譌, biện các thuyết sai): sách chép lại để bác, không phải để dùng.

通書曰:吕才云……如遇絶體、游魂、歸魂為中等……但婚姻之事理無十全,中平亦吉。

Lời bác của soạn giả trong cùng quyển, tóm lại:

  • Quyển 36 gom thuyết sai để biện, vì «thuật sĩ thích lạ mà ham lợi, lời sai nổi lên nhiều»[2].
  • Người theo thuyết hợp hôn gán cho Lã Tài, nhưng đây hẳn là thuật sĩ nguỵ thác. Lấy phép du niên biến quái của nhà địa lý ghép hai cung để định cát hung là so sánh không cùng loại, «càng rõ ràng trái lẽ»[2].
  • Thuyết hợp hôn thì tục phương Bắc dùng, sĩ đại phu và phương Nam đều không tin sâu[2].

術士好竒而嗜利,譌言繁興。……其為術士之偽托無疑也。……而又以地理家遊年變卦之法兩宫相配以定吉凶,無論比儗非倫……更屬顯然背謬。……然合婚之説北方世俗用之,士大夫及南方皆不深信。

Ở quyển đầu, Giám chính Khâm Thiên Giám Tiến Ái tâu: phép hợp hôn lấy cung sinh mệnh phối với sự biến động của hào quẻ, trong đó quẻ du hồn gọi là Du Hồn, là «gán ghép không cùng loại», xin bỏ đi[3]. Quyển 36 ghi lời tâu ấy nay đã được chuẩn, bỏ đi[2].

游魂卦為游魂,歸魂卦為絶命,牽合非倫……應請刪去。……今已奏准刪除。

Vì vậy, kết quả «phạm Lục Sát» ở Bảng 2 cho biết hai Cung Phi gặp sao gì theo bảng Bát Trạch, không phải lời phán cấm cưới của sách triều Thanh. Lục Sát cụ thể ứng vào việc gì cho đôi bạn, nên làm gì khi phạm: các sách đã kiểm không nói, Viện không tự viết.

Muốn xem kỹ cho đôi bạn hơn một bảng tra: Viện tư vấn kết hôn, xem tuổi hợp đôi bên, chọn ngày dạm ngõ, ăn hỏi, cưới, đón dâu theo dịch vụ Xem hôn nhân · cưới hỏi. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem tuổi vợ chồng

05Lục Sát khác Lục Xung, Lục Hại ra sao?

Lục Sát xét theo Cung Phi (quẻ bát quái); Lục Xung, Lục Hại xét theo con giáp (địa chi). Hai lối tra khác nhau, kết quả thường không trùng.

Bảng 4. Lục Sát, Lục Xung, Lục Hại, Lục Hợp: xét theo gì, gồm cặp nào
TênXét theoCác cặpSách ghi ở đâu
Lục SátCung PhiCàn – Khảm, Đoài – Tốn, Ly – Khôn, Chấn – CấnĐại du niên, quyển 2
Lục XungCon giápTý – Ngọ, Mão – Dậu, Dần – Thân, Tỵ – Hợi, Thìn – Tuất, Sửu – MùiTuế Phá, quyển 3 (năm với phương)
Lục HạiCon giápTý hại Mùi, Sửu hại Ngọ, Dần hại Tỵ, Mão hại Thìn, Thân hại Hợi, Dậu hại TuấtNguyệt Hại, quyển 6 (chọn ngày)
Lục HợpCon giápDần – Hợi, Mão – Tuất (sách nêu); Tý – Sửu, Thìn – Dậu, Tỵ – Thân, Ngọ – Mùi (Viện suy bằng code)Nguyệt Hại, quyển 6

Lục Xung: sách dẫn Minh Thời Tổng Yếu: Tuế Phá năm Tý ở Ngọ, đi thuận mười hai chi[4]; từ đó ra sáu cặp xung. Đoạn này nói xung giữa năm với phương, không nói tuổi vợ chồng.

明時總要曰:歲破者,子年在午,順行十二辰是也。

Lục Hại: sách chép Thần Xu Kinh: ngày Nguyệt Hại kiêng kết thân thông gia; đây là phép chọn ngày, không phải xem tuổi vợ chồng. Sáu cặp hại do Tào Chấn Khuê kê. Về nghĩa chữ «hại», soạn giả chỉ nhận lời Khảo Nguyên: lục hại là không hoà, vì xung vào chi mà mình hợp; còn cách giải của Tào Chấn Khuê thì sách bác[5].

考原曰:六害者,不和也。……按:六害之義,考原得之,震圭非也。

Thuyết hợp hôn còn đem lục hại năm–tháng, thai bào tương xung vào xem tuổi vợ chồng; sách chép vào quyển Biện ngoa để bác: «năm với tháng đâu phải vợ chồng, sao lại lấy làm lời đoán bất hoà?», và «năm của nam với tháng của nữ, năm của nữ với tháng của nam chẳng dính gì nhau, phá ở đâu?»[2]

年月非夫婦,何以遂為不和之占……況男年與女月,女年與男月,了不相干,何破之有。

Hai lối cho kết quả khác nhau. Viện đếm mọi cặp chồng, vợ sinh 1960–2010: có 259 cặp năm phạm Lục Sát theo Cung Phi. Trong đó không cặp nào là Lục Xung con giáp, 25 cặp là Lục Hại, 26 cặp lại là Lục Hợp. Ví dụ chồng 1990 Canh Ngọ, vợ 1991 Tân Mùi: theo Cung Phi là Lục Sát, theo con giáp Ngọ – Mùi lại là Lục Hợp.

Muốn hiểu thêm về chênh lệch tuổi theo địa chi, xem bài vợ chồng cách nhau bao nhiêu tuổi là đẹp.

Hai bạn vừa phạm Lục Sát vừa gặp xung, hại con giáp, chưa biết cân nhắc thế nào: Viện xem riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem tuổi vợ chồng

06Hỏi – đáp

Vợ cung Càn, chồng cung Khảm có phạm Lục Sát không?

Có. Bốn cặp Lục Sát đổi chiều vẫn vậy: Càn với Khảm, Đoài với Tốn, Ly với Khôn, Chấn với Cấn, bất kể ai là chồng, ai là vợ. Bảng 2 đã xếp sẵn theo năm sinh của chồng; chỉ cần đối năm sinh của vợ ở cột phải.

Một bên sinh năm rơi Trung cung (5) thì tra thế nào?

Bộ máy của Viện ghi các năm ấy là «Trung cung (5)», không gán sang cung nào, nên không tra Lục Sát được bằng Bảng 2. Nam: 1968, 1977, 1986, 1995, 2004; nữ: 1963, 1972, 1981, 1990, 1999, 2008. Năm này Viện xem riêng cho đôi bạn.

Đại du niên vốn là phép xem gì?

Sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư ghi Đại du niên là phép nhà xem tướng nhà dùng. Tám sao Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị, Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh đều lật quẻ mà ra. Ghép Cung Phi vợ chồng là đem phép ấy sang việc hôn nhân, chỗ sách bác ở quyển Biện ngoa.

Phạm Lục Sát thì hoá giải thế nào?

Các sách đã kiểm không nói cách hoá giải cho vợ chồng phạm Lục Sát, nên Viện không tự viết ra. Việc cân nhắc cho đôi bạn cần xem cả ngày sinh, năm cưới và chọn ngày cụ thể; Viện xem riêng, gọi hoặc nhắn Zalo 07.6264.1331.

Viện xem hôn nhân, cưới hỏi gồm những gì?

Tư vấn cho việc kết hôn: xem tuổi hợp của đôi bên, chọn ngày giờ tốt cho lễ dạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới và đón dâu, hướng dẫn nghi thức chu toàn theo phong tục. Liên hệ qua trang liên hệ, gọi hoặc nhắn Zalo để được báo giá.

Muốn tự học xem tuổi vợ chồng thì học khoá nào?

Khoá Phong Thủy Hôn Nhân (PT-205) của Viện dành cho việc hợp tuổi, cưới hỏi. Khoá dự kiến khai giảng quý 3 năm 2027 và cần học xong PT-102 trước. Đăng ký quan tâm ở trang khoá, hoặc xem các khoá đang mở ở trang Lịch khai giảng.

Nguồn tham khảo

  1. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư 欽定協紀辨方書 (đời Thanh; Tứ khố toàn thư), quyển 2 «本原» (Bản nguyên): mục «Tiểu du niên biến quái» 小遊年變卦 tờ 28a; mục «Đại du niên biến quái» 大遊年變卦 tờ 43a–44b; lời giải dưới hình tờ 50b, bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0051.
  2. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 36 «辨譌» (Biện ngoa), mục «Nam nữ hợp hôn đại lợi nguyệt» 男女合婚大利月: lời đầu quyển tờ 1a, lời bác tờ 4a–8b, lời Thông Thư dẫn Lã Tài tờ 9b–10a. Bản Kanripo KR3g0051.
  3. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển đầu 卷首: lời tâu của Giám chính Khâm Thiên Giám Tiến Ái 進愛, tờ 7b–8a. Bản Kanripo KR3g0051.
  4. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 3 «義例» (Nghĩa lệ), mục «Tuế Phá» 歲破, tờ 16b. Bản Kanripo KR3g0051.
  5. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 6 «義例» (Nghĩa lệ), mục «Nguyệt Hại» 月害, tờ 18b–19a. Bản Kanripo KR3g0051.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong sách trên hoặc tính lại bằng code, và nói rõ chỗ sách chép lại để bác. Bản Kanripo không chấm câu; chấm câu chữ Hán và lời dịch trong bài do Viện thêm. Xem tuổi để cưới hỏi còn xét ngày giờ, phong tục: nên để Viện xem cho đúng đôi bạn.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →