Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Ngũ hành bổ khuyết là gì? Cách đếm ngũ hành trong Bát Tự để biết thiếu hành nào

7 tháng 11, 2026 13 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Ngũ hành bổ khuyết là gì, lá số Bát Tự thiếu hành nào, có phải thiếu gì bù nấy, và vì sao sách cổ lại bàn Dụng Thần trước? Bài cho bảng đổi tám chữ ra ngũ hành, bốn bước đếm, kèm hai lá số mẫu chép từ sách Tam Mệnh Thông Hội.

Điểm chính

  • Tra Bảng 1, đổi tám chữ của bạn ra năm hành rồi đếm: biết ngay lối đếm tám chữ cho ra thiếu hành nào.
  • Cùng một lá số, đếm tám chữ và đếm nạp âm có thể ra hành thiếu khác nhau: sách Tam Mệnh Thông Hội có sẵn hai ví dụ.
  • Sách dạy ngũ hành đều cần trung hoà, thái quá thì chế, bất cập thì phù; suy đến cực thì không được thêm.
  • Dụng Thần của lá số bạn là gì, nên bù hay nên bớt: Viện xem riêng.

01Ngũ hành bổ khuyết là gì?

Theo sách Tam Mệnh Thông Hội, bổ khuyết là bù chỗ bất cập và bớt chỗ thái quá, cốt đưa lá số về đạo giữa.

Trích Tam Mệnh Thông Hội

«Hoặc bù chỗ bất cập, hoặc bớt chỗ thái quá; quý ở chỗ chiết trung, về với đạo giữa.»

或益其不及,或損其太過,所以貴在折衷,歸於中道

Tam Mệnh Thông Hội, quyển 1, mục «Luận ngũ hành», tờ 106b[1] · xem bản gốc

Câu đứng trước trong sách: thái quá hay bất cập đều là trái đạo; cao thì nén cho bằng, thấp thì nâng cho cao.

Hai vế đi liền nhau. «Bù» luôn đi cùng «bớt». Sách không dùng chữ «bổ khuyết» hay «ngũ hành khuyết»; chữ sách dùng là «bất cập» (không tới) và «thái quá» (vượt quá).

Ngũ hành khuyết theo sách là gì?

«Khuyết» trong sách là bất cập. Sách dặn các hành phải «giúp nhau được chỗ, đừng để thái quá hay bất cập»[1]. Ở chỗ khác, sách viết: trong tứ trụ phải nén, nâng cho về giữa, không thái quá không bất cập mới là mệnh tốt; có một vị bất cập thì chủ trắc trở[2]. «Một vị» ở đây là một vị trí trong tứ trụ, không phải một hành vắng mặt khi đếm.

Phú «Vu Hàm toát yếu» mà sách chép lại nói gọn hơn: «Ngũ hành đều cần trung hoà, không một hành nào được thiên khô (lệch, khô kiệt).»[4]

五行俱要中和,一物不可偏枯

02Cách đếm ngũ hành trong tám chữ Bát Tự ra sao?

Viết tám chữ can chi của bốn trụ năm, tháng, ngày, giờ; đổi từng chữ ra hành theo Bảng 1; đếm mỗi hành mấy chữ. Hành nào không có chữ nào là hành «thiếu» theo lối đếm tám chữ.

  1. 1Chép tám chữBốn trụ năm, tháng, ngày, giờ, mỗi trụ một can một chi. Chưa có lá số Bát Tự thì nhờ Viện lập.
  2. 2Đổi ra hànhTra từng can, từng chi trong Bảng 1.
  3. 3ĐếmCộng số chữ của Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; tổng phải đủ 8.
  4. 4Ghi hành bằng 0Đó là hành thiếu theo lối đếm tám chữ. Chưa vội bù: đọc phần 03.
Bảng 1. Mười can, mười hai chi thuộc hành nào
HànhThiên canĐịa chi
MộcGiáp, ẤtDần, Mão
HỏaBính, ĐinhTỵ, Ngọ
ThổMậu, KỷThìn, Tuất, Sửu, Mùi
KimCanh, TânThân, Dậu
ThủyNhâm, QuýHợi, Tý

Hành của can theo câu «Giáp Ất cần nhau mà thành một Mộc… Bính Đinh thành Hỏa, Mậu Kỷ thành Thổ, Canh Tân thành Kim, Nhâm Quý thành Thủy»; hành của chi theo lời Thái thị mà sách dẫn rồi khen là đúng[2]. Can tàng trong chi thì sách chỉ xét ở chi tháng, chi năm, ngày, giờ không xét[2].

Hai lá số mẫu trong sách thiếu hành nào?

Đếm tám chữ, lá số Thượng thư Lý Đình Tương thiếu Thủy, lá số Hàn lâm Hà Lạc Văn thiếu Mộc. Hai lá số này in trong mục «Ngũ hành câu túc» (đủ năm hành) của sách[3]. Viện đếm lại bằng code, trụ tháng, giờ và thai đều khớp phép của sách.

Bảng 2. Đếm ngũ hành hai lá số ví dụ của Tam Mệnh Thông Hội
Lối đếmLý Đình Tương: Tân Sửu, Giáp Ngọ, Bính Thân, Mậu Tuất, thai Ất DậuHà Lạc Văn: Bính Thân, Tân Sửu, Nhâm Tý, Tân Hợi, thai Nhâm Thìn
Tám chữ bốn trụKim 2 · Mộc 1 · Thủy 0 · Hỏa 2 · Thổ 3 → thiếu ThủyKim 3 · Mộc 0 · Thủy 3 · Hỏa 1 · Thổ 1 → thiếu Mộc
Thêm hai chữ thaiKim 3 · Mộc 2 · Thủy 0 · Hỏa 2 · Thổ 3 → thiếu ThủyKim 3 · Mộc 0 · Thủy 4 · Hỏa 1 · Thổ 2 → thiếu Mộc
Nạp âm bốn trụBích Thượng Thổ, Sa Trung Kim, Sơn Hạ Hỏa, Bình Địa Mộc → thiếu ThủySơn Hạ Hỏa, Bích Thượng Thổ, Tang Đố Mộc, Thoa Xuyến Kim → thiếu Thủy
Nạp âm bốn trụ và thaiThêm Tỉnh Tuyền Thủy → đủ năm hànhThêm Trường Lưu Thủy → đủ năm hành

Hình đếm tám chữ lá số Lý Đình Tương

Tám chữ lá số Lý Đình Tương xếp theo năm hành: Thủy bằng 0 Tám chữ của lá số Thượng thư Lý Đình Tương trong Tam Mệnh Thông Hội: Tân Sửu, Giáp Ngọ, Bính Thân, Mậu Tuất. Xếp mỗi chữ vào cột hành của nó theo Bảng 1: Mộc có 1 chữ (Giáp), Hỏa có 2 chữ (Bính, Ngọ), Thổ có 3 chữ (Mậu, Sửu, Tuất), Kim có 2 chữ (Tân, Thân), Thủy không có chữ nào. Tổng 1 + 2 + 3 + 2 + 0 = 8. Cột Thủy rỗng nên theo lối đếm tám chữ lá số thiếu Thủy. Đếm tám chữ vào năm hành Mỗi chữ rơi vào cột hành của nó; cột rỗng là hành thiếu Lá số mẫu: Thượng thư Lý Đình Tương GiápMộc1 chữ NgọBínhHỏa2 chữ SửuMậuTuấtThổ3 chữ TânThânKim2 chữ 0Thủy0 chữthiếu Tám chữ: Tân Sửu, Giáp Ngọ, Bính Thân, Mậu Tuất 1 + 2 + 3 + 2 + 0 = 8 chữ; tra hành theo Bảng 1
Hình 1. Tám chữ của lá số Lý Đình Tương rơi vào từng cột hành: Thổ chất cao nhất, cột Thủy rỗng nên là hành thiếu. Hình minh hoạ.

Vì sao «thiếu hành nào» tuỳ lối đếm?

Sách nêu hai lối trong cùng một mục. Lối thứ nhất: năm, tháng, ngày, giờ, thai mang đủ năm hành «hoặc theo chân khí, hoặc theo nạp âm»; lại phải tương sinh, không tử tuyệt mới quý[3].

謂年月日時胎帶金木水火土,或眞氣,或納音,而三元有氣

Lối thứ hai là lời Hồ Trung Tử: đủ năm hành thì không kể thai, chỉ lấy chân khí lúc sinh; thêm nạp âm tháng thai vào là sai[3].

五行俱足不論胎,乃取當生眞氣而圓之

Hai lá số mẫu in ngay sau lời ấy, nhưng chỉ đủ năm hành khi tính nạp âm cả trụ thai. Viện nêu cả hai lối, không tự hoà giải. Đây là phép đếm trên ví dụ của sách, chưa phải lời luận mệnh.

Đếm xong mà chưa biết lá số mình nên đọc theo lối nào: Viện xem riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem lá số

03Khuyết hành nào thì bổ sung hành đó có đúng không?

Không hẳn. Sách cổ đã kiểm không dạy đếm thấy thiếu rồi bù đúng hành ấy; sách xét vượng suy và thông biến.

Tam Mệnh Thông Hội viết: «Thấy sinh vượng chưa hẳn đã luận là tốt, thấy hưu tù tử tuyệt chưa hẳn đã nói là xấu. Sinh vượng thái quá thì nên chế phục; tử tuyệt bất cập thì nên sinh phù; cái diệu là biết thông biến.»[2]

Sách xét vượng suy trước khi bàn Dụng Thần

Sách Trích Thiên Tủy nói rõ hơn: suy thì thích được giúp, đó là lẽ Tử Bình; «nhưng trong vượng có suy thì không được bớt; trong suy có vượng thì không được thêm»[5]. Suy đến cực cũng không được thêm. Chỗ đáng thêm mà thêm có khi lại hoá hại.

旺中有衰者存,不可損也。衰中有旺者存,不可益也。

所當益者而益之反害

Phú «Vu Hàm toát yếu» còn ghi: «Đều vượng thì theo cái nó sai khiến; đều suy thì biến thành vật khác.»[4] Lá số theo thế mạnh như vậy Viện có bài riêng về Tòng cách trong Bát Tự.

Vận cũng tính vào. Sách viết: ngũ hành trong mệnh suy thì vận nên thịnh, thịnh thì vận nên suy; cốt về chỗ giữa mà thôi[2].

Hành thiếu trong lá số bạn nên bù hay nên để yên: phải luận vượng suy và vận của chính lá số. Viện xem riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện luận lá số

04Bổ khuyết khác tìm Dụng Thần thế nào?

Bổ khuyết nhìn hành nào ít; tìm Dụng Thần bắt đầu từ chi tháng, rồi mới phù hay ức cho đúng mức. Muốn đọc kỹ hơn, xem bài Dụng thần là gì của Viện.

Dụng Thần lấy ở chi tháng

Tam Mệnh Thông Hội gọi cái tàng trong chi là nhân nguyên, thần tư sự (thần nắm việc); «nói theo thuật mệnh thì là dụng thần của lệnh tháng». Sách dẫn kinh: dụng thần không được tổn thương, nhật chủ nên kiện vượng[2].

以命術言之,為月令用神。經云:用神不可損傷,日主最宜健旺

Sách còn viết: dụng thần phần nhiều lấy ở tháng, thế thì tháng há có thể xem nhẹ[2]. Khẩu quyết xem mệnh sách chép dặn: trước xem chi tháng; lệnh tháng hoàn toàn không có gì dùng được mới xem cách khác[4]. Cách xác định cách cục từ lệnh tháng có ở bài Bát Tự nhập cách.

Phù hay ức Dụng Thần cho đúng mức

Trích Thiên Tủy viết: «Đạo có thể có dụng, không thể luận một chiều; cốt ở chỗ phù hay ức cho đúng mức.»[6]

道有體用,不可以一端論也,要在扶之抑之得其宜。

Lời giải dưới câu ấy cho hai lối chính. Lệnh tháng tài, quan, thực thần quá vượng thì lấy ấn, tỉ ở năm, tháng, giờ làm hỷ thần. Lệnh tháng ấn, tỉ quá vượng thì lấy thực thương, tài, quan làm hỷ thần[6]. Các tên tài, quan, ấn, tỉ là Thập Thần. Tứ trụ thái quá hay bất cập thì dùng tuế vận gọt bớt hay bồi thêm.

Như vậy, «bù» trong sách là bù cho đúng chỗ lá số cần, sau khi đã xem lệnh tháng và vượng suy, không phải bù theo số đếm. Sách Trích Thiên Tủy kết: «Hiểu được lẽ chính của trung hoà thì với chỗ diệu của ngũ hành mới thông trọn.»[7]

05Lá số của bạn cần Dụng Thần nào?

Phải lập và luận từng lá số mới biết; bảng đếm ở phần 02 chỉ cho biết lối đếm tám chữ ra hành nào bằng 0.

Lá số cụ thể thiếu hành nào, Dụng Thần là gì, nên bù hay nên bớt: sách không trả lời thay cho từng người, và Viện không đoán qua một bảng đếm. Có hai đường đi tiếp.

Nhờ Viện xem mệnh lý

Dịch vụ Xem mệnh lý của Viện phân tích lá số, luận vận trình theo Bát Tự Hà Lạc, Tứ Trụ Tử Bình, Tử Vi Đẩu Số. Giá liên hệ để được báo.

Gửi ngày, giờ sinh cho Viện: Viện lập lá số, xem lệnh tháng, vượng suy và Dụng Thần cho bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem Dụng Thần

Tự học tìm Dụng Thần

Khoá Bát Tự · Tứ Trụ Tử Bình (PT-ML302) dạy lập Bát Tự, xác định Nhật Chủ, các Thần Sát và dụng thần. Cần học PT-ML301 trước; lịch khai giảng hỏi tư vấn viên. Muốn biết Bát Tự khác Tử Vi ra sao trước khi chọn khoá, đọc bài Bát Tự khác Tử Vi thế nào.

06Hỏi – đáp về Dụng Thần và ngũ hành khuyết

Lá số thiếu hẳn một hành có phải là xấu không?

Sách không nói thế. Tam Mệnh Thông Hội dặn thấy hưu tù tử tuyệt chưa hẳn đã là xấu, cái diệu là biết thông biến. Điều sách coi trọng là cả lá số có về trung hoà hay không, xét theo lệnh tháng và vượng suy, chứ không theo một hành vắng mặt.

Có nên đếm cả can tàng trong bốn chi không?

Tam Mệnh Thông Hội viết can tàng trong chi chỉ xét ở chi tháng, còn chi năm, ngày, giờ không xét, vì mệnh người trọng lệnh tháng. Bảng 1 vì vậy chỉ đổi tám chữ ra hành.

Có tính trụ thai khi đếm ngũ hành không?

Sách nêu hai lối. Một lối kể cả thai, theo chân khí hoặc nạp âm. Hồ Trung Tử thì nói không kể thai, thêm nạp âm tháng thai là sai. Hai lá số mẫu ở Bảng 2 chỉ đủ năm hành khi tính nạp âm cả thai.

Thiếu hành thì bù bằng tên, màu sắc, đồ vật được không?

Các sách Viện đã kiểm cho bài này không nói về cách ấy, nên Viện không viết. Lá số của bạn cần gì nên để Viện xem riêng, hoặc học khoá Bát Tự để tự luận.

Ngũ hành khuyết đức là gì?

Viện chưa tìm thấy cụm này trong các sách đã kiểm, nên bài không giải nghĩa. Nếu bạn gặp cụm từ ấy trong lá số được xem ở đâu đó, gửi Viện để xem riêng.

Nguồn tham khảo

  1. Tam Mệnh Thông Hội 三命通會, Vạn Dân Anh 萬民英 soạn, đời Minh; quyển 1, mục «Luận ngũ hành» 論五行, tờ 105b–106b, bản Văn Uyên Các (Tứ khố toàn thư). Bản Kanripo KR3g0042.
  2. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 2: hành của can chi tờ 16a; «Luận nhân nguyên tư sự» 論人元司事 tờ 33a, 36a; vượng suy, chế phục, sinh phù tờ 56b; «Luận niên nguyệt nhật thời» 論年月日時 tờ 59a–59b; «Luận đại vận» 論大運 tờ 69b. Bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0042.
  3. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 6, mục «Ngũ hành câu túc» 五行俱足, tờ 94a–94b: hai lối đếm và hai lá số ví dụ. Bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0042.
  4. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 10: khẩu quyết xem mệnh tờ 1a; phú «Vu Hàm toát yếu» 巫咸撮要 tờ 40b–41a. Bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0042.
  5. Trích Thiên Tủy 滴天髓 (bản Trích Thiên Tủy tập yếu, trang đề Lưu Cơ 劉基), mục «Suy vượng luận» 衰旺論. Bản trên Wikisource.
  6. Trích Thiên Tủy, mục «Thể dụng luận» 體用論. Bản trên Wikisource.
  7. Trích Thiên Tủy, mục «Trung hoà luận» 中和論. Bản trên Wikisource.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên hoặc đếm bằng chính bảng can chi, nạp âm của sách. Bản Kanripo không chấm câu; chấm câu chữ Hán trong bài do Viện thêm. Luận một lá số cụ thể cần lập và xem riêng.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →