Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Dụng thần là gì? Cách tìm dụng thần và kỵ thần trong Bát Tự

30 tháng 10, 2026 15 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Dụng thần là gì, và tìm nó trong Bát Tự ở đâu? Bài trả lời theo sách Tam Mệnh Thông Hội, kèm bảng tra can chủ sự của 12 chi tháng và bảng phân biệt dụng thần với kỵ thần. Cần luận dụng thần cho lá số của mình, Viện xem riêng.

Điểm chính

  • Dụng thần nằm trước hết ở chi tháng: sách nói «lệnh tháng là mệnh», dụng thần phần nhiều lấy ở tháng.
  • Tra tháng sinh trong Bảng 1 để biết can nào chủ sự trong tháng ấy và chủ sự bao nhiêu ngày.
  • Kỵ thần là thần khắc hại dụng thần; kỵ thần đắc lệnh thì mừng có thần khắc chế nó.
  • Nhật chủ và dụng thần quá thịnh thì cần tiết chế, dần suy thì cần bổ trợ: sách gọi là phép cốt yếu.
  • Chấm vượng nhược để ra dụng thần cho một lá số cụ thể: Viện xem riêng, hoặc học khoá Bát Tự · Tứ Trụ Tử Bình.

01Dụng thần là gì?

Dụng thần là thần chủ sự tàng trong địa chi của tháng sinh; nói theo thuật đoán mệnh, đó là «dụng thần của lệnh tháng».

Lệnh tháng là chi của trụ tháng, tức tháng sinh tính theo can chi. Trong mỗi chi có can tàng bên trong. Sách gọi phần tàng ấy là nhân nguyên, và gọi nó là thần chủ sự (tư sự chi thần, thần nắm việc).

Trích Tam Mệnh Thông Hội

«Cho nên cái tàng trong địa chi, chủ về mệnh, gọi là nhân nguyên, tên là thần chủ sự; nói theo thuật đoán mệnh thì đó là dụng thần của lệnh tháng. Kinh nói: “Dụng thần không được tổn thương, nhật chủ nên mạnh khoẻ (kiện vượng)”, chính là thế.»

故支中所藏者主命謂之人元名為司事之神以命術言之為月令用神經云用神不可損傷日主最宜健旺是也

Tam Mệnh Thông Hội, quyển 2, mục «Luận nhân nguyên tư sự», tờ 33a[1] · xem bản gốc

Câu kinh ấy cho hai điều phải giữ: dụng thần đừng bị tổn thương, và nhật chủ (can của ngày sinh) nên mạnh. Nhật chủ là gì và mười quan hệ quanh nó, xem bài thập thần.

Vì sao sách này đáng tin khi bàn dụng thần? Các quan biên Tứ khố toàn thư viết trong lời đề yếu: sách phát minh phép để lại của Tử Bình, bàn danh nghĩa quan, ấn, tài, lộc, thực, thương và «nặng nhẹ của dụng thần», nên nhà thuật thường dùng. Cũng lời đề yếu ấy chê sách lập luận phần nhiều lấy chính quan, chính ấn, chính tài mà không biết thiên quan, thiên ấn, thiên tài cũng đắc lực, là cái thấy thiên chấp, chưa tròn[6].

02Dụng thần tính như thế nào?

Xem chi tháng trước: tra trong Bảng 1 xem chi tháng sinh tàng can nào chủ sự, rồi xét lệnh tháng có tài, quan không.

Sách ghi rõ thứ tự xem. Mục khẩu quyết xem mệnh viết: «Phàm xem mệnh, trước hết xem chi tháng có hay không có tài, quan, rồi mới xem chỗ khác: lệnh tháng là mệnh vậy»[2]. Nếu lệnh tháng hoàn toàn không có gì dùng được, mới xem cách khác.

大凡㸔命先㸔月支有無財官方㸔其他月令為命也

Ở chỗ khác, soạn giả nói thêm: «Huống chi dụng thần phần nhiều lấy ở tháng, thì tháng sao có thể xem nhẹ?»[1]

况用神多取諸月是月又可輕乎

Các bước tra nhanh

  1. Nhập ngày sinh dương lịch, giờ sinh, giới tính vào công cụ lập lá số Tứ Trụ Bát Tự của Viện để có bốn trụ và Nhật Chủ (cách đọc bốn trụ: xem bài lá số Bát Tự).
  2. Đọc chi của trụ tháng (Dần, Mão, Thìn…).
  3. Tìm chi ấy trong Bảng 1: cột giữa cho biết can nào chủ sự, theo thứ tự, mỗi can bao nhiêu ngày. Can đứng cuối là can chủ sự nhiều ngày nhất.
  4. Đối chiếu can chủ sự với Nhật Chủ để biết nó là tài, quan hay thần nào khác (công cụ hiện sẵn Thập Thần).
  5. Lệnh tháng có tài, quan thì lấy ở tháng trước. Lệnh tháng không có gì dùng được thì mới xét cách khác (xem bài Bát Tự nhập cách); phần này cần luận cả lá số, Viện xem riêng.
Bảng 1. Can chủ sự trong 12 chi tháng và số ngày (Tam Mệnh Thông Hội, quyển 2)
ThángChi thángCan chủ sự theo thứ tự (số ngày)Cộng
1 (正月)Dần (寅)Cấn thổ (艮土, sách không ghi can) 5 ngày → Bính (丙火) 5 ngày → Giáp (甲木) 20 ngày30
2 (二月)Mão (卯)Giáp (甲木) 7 ngày → Ất (乙木) 23 ngày30
3 (三月)Thìn (辰)Ất (乙木) 7 ngày → Nhâm (壬水) 5 ngày → Mậu (戊土) 18 ngày30
4 (四月)Tỵ (巳)Mậu (戊土) 7 ngày → Canh (庚金) 5 ngày → Bính (丙火) 18 ngày30
5 (五月)Ngọ (午)Bính (丙火) 7 ngày → Đinh (丁火) 23 ngày30
6 (六月)Mùi (未)Đinh (丁火) 7 ngày → Giáp (甲木) 5 ngày → thổ (bản số in 巳土) 18 ngày30
7 (七月)Thân (申)Khôn thổ (坤土, sách không ghi can) 5 ngày → Nhâm (壬水) 5 ngày → Canh (庚金) 20 ngày30
8 (八月)Dậu (酉)Canh (庚金) 7 ngày → Tân (辛金) 23 ngày30
9 (九月)Tuất (戌)Tân (辛金) 7 ngày → Bính (丙火) 5 ngày → Mậu (戊土) 18 ngày30
10 (十月)Hợi (亥)Mậu (戊土) 5 ngày → Giáp (甲木) 5 ngày → Nhâm (壬水) 20 ngày30
11 (十一月)Tý (子)Nhâm (壬水) 7 ngày → Quý (癸水) 23 ngày30
12 (十二月)Sửu (丑)Quý (癸水) 7 ngày → Canh (庚金) 5 ngày → thổ (bản số in 巳土) 18 ngày30

Bảng chép từ mục «Luận nhân nguyên tư sự», tờ 33a–34a[1]; Viện cộng lại bằng code, cả 12 tháng đều đủ 30 ngày. Hai chỗ cần biết: bản Văn Uyên Các in chữ «巳土» ở tháng 6 và tháng 12, nên bảng ghi «thổ»; và sách không nói các ngày ấy đếm từ mốc nào trong tháng.

Vòng 12 chi tháng và can chủ sự trong mỗi tháng Vòng tròn chia 12 chi tháng từ Dần (tháng 1) đến Sửu (tháng 12), mỗi tháng 30 ngày. Mỗi tháng chia thành hai hoặc ba đoạn, dài theo số ngày của từng can chủ sự, tô màu theo hành. Chữ trong vòng là can đứng cuối, chủ sự nhiều ngày nhất: Dần Giáp 20 ngày, Mão Ất 23, Thìn Mậu 18, Tỵ Bính 18, Ngọ Đinh 23, Mùi thổ 18, Thân Canh 20, Dậu Tân 23, Tuất Mậu 18, Hợi Nhâm 20, Tý Quý 23, Sửu thổ 18. Theo Bảng 1 sách Tam Mệnh Thông Hội; các tháng Mão, Ngọ, Dậu, Tý chỉ có hai can. Can chủ sự qua 12 chi tháng Mỗi chi tháng 30 ngày, chia theo số ngày của từng can Chữ trong vòng: can đứng cuối và số ngày chủ sự của nó Giáp20 1 · Dần Ất23 2 · Mão Mậu18 3 · Thìn Bính18 4 · Tỵ Đinh23 5 · Ngọ thổ18 6 · Mùi Canh20 7 · Thân Tân23 8 · Dậu Mậu18 9 · Tuất Nhâm20 10 · Hợi Quý23 11 · Tý thổ18 12 · Sửu Mỗi thángđủ 30 ngày Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy Màu theo hành của can; đoạn dài ngắn theo số ngày. Tháng Mùi, Sửu: sách chỉ ghi «thổ» ở đoạn cuối.
Hình 1. Vòng 12 chi tháng, mỗi tháng 30 ngày chia theo số ngày của từng can chủ sự, tô màu theo hành; chữ trong vòng là can đứng cuối của tháng. Hình minh hoạ.

Sinh gần chỗ chuyển giữa hai can trong tháng, hay lệnh tháng không có tài, quan: sách đã kiểm không cho cách chấm cụ thể. Viện xem riêng lá số của bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện luận dụng thần

03Dụng thần khác kỵ thần ra sao?

Dụng thần là thần lá số cần dùng; kỵ thần là thần khắc hại nó. Sách ví dụ: dùng Kim làm tài thì Hoả là kỵ thần.

Ví dụ ấy nằm trong Ngọc Tỉnh áo quyết của Đỗ Khiêm, được Tam Mệnh Thông Hội chép trọn kèm lời chú. Câu chính: «Kỵ thần ngồi ở chỗ đắc lệnh, vượng thì lại mừng bị hình thương». Lời chú: «Kỵ thần, như dùng Kim làm tài thì Hoả là kỵ thần; chỉ mừng có thần khắc chế đặt lên là hay»[2].

忌神坐令旺之所反喜刑傷

忌神者如用金為財火即忌神惟喜尅制之神加上為妙

Câu kề bên nói chiều ngược lại: «Dụng thần ở chỗ sinh, vượng của thời thì phải phòng khắc chế»[2].

用神生時旺之方當防尅制

Khi xét xung, sách dẫn Ngọc Tỉnh: phải lấy dụng thần làm «ta», nhàn thần làm «nó»; lại xem dụng thần có khí không, có được phù không[1].

須取用神為我閒神為他又看用神有氣耶有扶耶

Bảng 2. Dụng thần và kỵ thần theo lời sách Tam Mệnh Thông Hội
Điều cần xétDụng thầnKỵ thần
Là gìThần chủ sự trong lệnh tháng, «ta» trong lá sốThần khắc hại dụng thần (dùng Kim làm tài thì Hoả là kỵ)
Khi đang vượngỞ đất sinh, vượng thì phải phòng bị khắc chếNgồi chỗ đắc lệnh, vượng thì lại mừng bị hình thương
Điều mongKhông bị tổn thương; có khí, được phùCó thần khắc chế đặt lên
Với đại vậnCái ích dụng thần thì muốn vận sinh nóCái tổn dụng thần thì muốn vận chế nó

Công cụ lá số của Viện xếp vòng năm thần Dụng, Hỷ, Nhàn, Cừu, Kỵ cho từng lá số; phần này mở theo khoá học và gói tài khoản. Sách đã kiểm không định nghĩa hỷ thần, cừu thần theo nghĩa ấy, nên bài không giảng thêm.

Muốn biết lá số của mình lấy gì làm dụng thần, gì là kỵ thần: Viện phân tích lá số và luận vận trình. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem mệnh lý

04Nhật chủ vượng hay nhược ảnh hưởng dụng thần thế nào?

Nhật chủ và dụng thần quá thịnh thì cần tiết chế, dần suy thì cần bổ trợ; sách gọi đó là phép cốt yếu khi xem mệnh.

Lời này nằm ở mục bàn chính quan, nói về vai trò của giờ sinh: «Nhật chủ và dụng thần quá thịnh thì nên có giờ để tiết chế; nhật chủ và dụng thần dần suy thì nên có giờ để bổ trợ. Trong trụ dù có hung thần mà giờ tiết chế được thì cũng không gây hoạ. Đó là phép cốt yếu khi xem mệnh»[3].

日主用神太盛宜時以節制之日主用神漸衰宜時以補助之柱中雖有㐫神時能節制亦不能為禍此㸔命之要法也

Với đại vận, sách viết: «Cái làm tổn dụng thần thì muốn vận chế nó; cái làm ích dụng thần thì muốn vận sinh nó; thân nhược thì muốn vận dẫn vào đất vượng»[1].

損用神者欲運制之益用神者欲運生之身弱欲運引進旺鄉

Thân vượng hay nhược đo thế nào? Công cụ của Viện xét bốn mặt: đắc lệnh, đắc địa, đắc trợ, đắc sinh. Cách chấm điểm từng mặt cho một lá số, sách đã kiểm không ghi; khoá Bát Tự · Tứ Trụ Tử Bình dạy xác định Nhật Chủ, Thần Sát, dụng thần.

05Điều hậu và phù ức là gì?

Điều hậu và phù ức là tên hai phái chọn dụng thần mà công cụ Viện đem so; cổ thư đã kiểm không dùng chữ «điều hậu» làm tên phái.

Công cụ lá số của Viện so năm phái: Phù Ức, Điều Hậu, Thông Quan, Bệnh Dược, Cách Cục, rồi đưa khuyến nghị; các phái có thể cho kết quả khác nhau. Còn ý gốc của hai lối nghĩ, sách cổ có nói.

Phù ức: nén chỗ thái quá, đỡ chỗ bất cập

Tam Mệnh Thông Hội viết: «Trong bốn trụ lại nén chỗ cao, nâng chỗ thấp, về được chỗ giữa, không thái quá không bất cập thì mới là mệnh tốt»[1].

四柱中更抑揚歸中無太過不及方作好命

Cùng Thông Bảo Giám nói gần như thế: «Thái quá và bất cập đều trái đạo. Cho nên cao thì nén cho bằng, thấp thì nâng cho cao; hoặc bù chỗ thiếu, hoặc bớt chỗ thừa. Cho nên quý ở chỗ chiết trung… Đi vận cũng vậy»[7].

过与不及,皆为乖道。故高者抑之使平,下者举之使崇,或益其不及,或损其太过。所以贵在折衷,归於中道,使无有余不足之累,即才官印食贵人驿马之微意也。行运亦如之

Trong một đoạn bàn ngày Tứ phế, Thiên địa chuyển, Tam Mệnh Thông Hội cũng viết: «Đại để tạo hoá thích nhất trung hoà; thái quá hay bất cập đều không tốt», và nếu chỗ bất cập có sinh phù, chỗ thái quá có chế ức thì không luận như thế[4]. Câu này nói về các ngày ấy, không phải định nghĩa phù ức.

Hai chữ «phù ức» có mặt trong lời chú Ngọc Tỉnh áo quyết, nói về chi của vận: vật thái quá thì nên nén, vật bất cập thì nên đỡ; «nếu chỉ xét dụng thần nặng nhẹ, phù ức thôi thì cũng chưa khéo»[2].

若只詳用神輕重扶抑者亦未善

Điều hậu: sưởi ấm mệnh sinh mùa lạnh

Cùng Thông Bảo Giám xét dụng thần theo mùa sinh. Về mộc: «Mộc sinh mùa xuân, rét sót còn đó; mừng có hoả sưởi ấm thì không lo co quắp; nhờ thuỷ tư dưỡng thì được vẻ thư thái»[7].

木生于春,余寒犹存。喜火温暖,则无盘屈之患。藉水资扶,而有舒畅之美。

Với người Nhật Chủ Ất mộc, sách nêu từng tháng[7]:

  • Tháng Giêng: «tất phải dùng Bính, vì khí trời còn rét sót, không có Bính thì không ấm; dù có Quý thuỷ, e làm đông khí lạnh, nên lấy Bính hoả trước, Quý thuỷ sau».
  • Tháng Hai: «dương khí dần lên, mộc không lạnh nữa, lấy Bính làm vua, Quý làm tôi».
  • Tháng Mười một: «hoa cỏ rét cóng, một dương trở lại, mừng dùng Bính hoả để tan băng».

正月乙木,必须用丙,因天气尤有余寒,非丙不暖,虽有癸水,恐凝寒气,故以丙火为先,癸水次之。

十一月乙木,花木寒冻,一阳来复,喜用丙火解冻

Tam Mệnh Thông Hội nói cùng ý cho thuỷ: «Thuỷ tháng đông nắm lệnh chuyên quyền; gặp hoả thì thêm ấm, trừ rét»[5].

冬月之水司令專權遇火則增煖除寒

Muốn tự luận được dụng thần theo các phái: học khoá Bát Tự · Tứ Trụ Tử Bình. Xem lịch khai giảng.

Xem khoá PT-ML302

06Hỏi – đáp

Dụng thần có luôn nằm ở tháng sinh không?

Sách Tam Mệnh Thông Hội nói dụng thần phần nhiều lấy ở tháng, và dặn xem chi tháng trước. Nếu lệnh tháng hoàn toàn không có gì dùng được thì mới xem cách khác. Vì vậy tháng là chỗ tra đầu tiên, nhưng không phải lá số nào cũng dừng ở tháng; phần này cần xem cả lá số.

Đại vận tác động lên dụng thần thế nào?

Theo mục bàn đại vận của Tam Mệnh Thông Hội: cái làm tổn dụng thần thì muốn vận chế nó, cái làm ích dụng thần thì muốn vận sinh nó, thân nhược thì muốn vận dẫn vào đất vượng. Muốn biết vận nào của mình thuận với dụng thần, Viện luận vận trình qua dịch vụ xem mệnh lý.

Các phái chọn dụng thần có cho cùng một kết quả không?

Không hẳn. Công cụ lá số của Viện so năm phái Phù Ức, Điều Hậu, Thông Quan, Bệnh Dược, Cách Cục rồi mới đưa khuyến nghị, và ghi rõ các phái có thể cho kết quả khác nhau. Gặp chỗ các phái lệch nhau, nên để người luận xem cả bốn trụ.

Hỷ thần, cừu thần, nhàn thần là gì?

Công cụ của Viện xếp vòng năm thần Dụng, Hỷ, Nhàn, Cừu, Kỵ cho mỗi lá số. Trong sách đã kiểm, Viện chưa thấy định nghĩa hỷ thần, cừu thần theo nghĩa ấy, nên bài không tự giảng. Muốn hiểu vòng năm thần trong lá số của mình, nhờ Viện xem riêng hoặc học khoá Bát Tự.

Muốn học tìm dụng thần thì học khoá nào?

Khoá PT-ML302 Bát Tự · Tứ Trụ Tử Bình, cấp 4 của Khoa Mệnh Lý, đào sâu cách lập Bát Tự, xác định Nhật Chủ, các Thần Sát và dụng thần. Khoá PT-ML302 dự kiến mở năm 2027, cần học PT-ML301 trước, học trực tiếp tại 29 Cộng Hòa.

Nguồn tham khảo

  1. Tam Mệnh Thông Hội 三命通會, 12 quyển, Vạn Dân Anh 萬民英 soạn, đời Minh; bản Tứ khố toàn thư, Văn Uyên Các. Quyển 2: mục «Luận nhân nguyên tư sự» tờ 33a–34a, «Luận niên nguyệt nhật thời» tờ 59a–59b, «Luận đại vận» tờ 68a, «Luận xung kích» tờ 116b–117a. Bản Kanripo KR3g0042.
  2. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 10: mục «Khán mệnh khẩu quyết» 㸔命口訣 tờ 1a; «Ngọc Tỉnh áo quyết» 玉井奥訣 (Đỗ Khiêm soạn, sách chép kèm lời chú) tờ 60a, 84b. Bản Kanripo KR3g0042.
  3. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 5, mục «Luận chính quan» 論正官, tờ 6b. Bản Kanripo KR3g0042.
  4. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 3, mục «Luận thập ác đại bại» 論十惡大敗 (đoạn bàn ngày Tứ phế, Thiên địa chuyển), tờ 76a. Bản Kanripo KR3g0042.
  5. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 1, mục «Luận ngũ hành» 論五行, tiểu mục thuỷ, tờ 111a. Bản Kanripo KR3g0042.
  6. Tứ khố toàn thư đề yếu về Tam Mệnh Thông Hội 三命通會 · 提要, đời Thanh, năm Càn Long 44, tờ 1b–2a. Bản Kanripo KR3g0042. Thông tin sách: Wikipedia tiếng Trung.
  7. Cùng Thông Bảo Giám 窮通寶鑑, đời Thanh, Dư Xuân Đài 余春臺 chỉnh lý từ sách cũ Lan Giang Võng 欄江網; mục «Ngũ hành tổng luận», «Luận mộc», «Luận Ất mộc». Bản Wikisource (chép giản thể, không ghi quyển, tờ). Thông tin sách: Wikipedia tiếng Trung.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên hoặc cộng lại bằng code. Bản Kanripo không chấm câu; lời dịch và chấm câu là của Viện. Luận dụng thần cho một lá số cần xét cả bốn trụ và đại vận: nên để Viện xem cho đúng người.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →