Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Đại vận Kình Dương trong Tử Vi là gì? Cách đọc 10 năm theo miếu hãm và các cung

4 tháng 11, 2026 16 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Đại vận Kình Dương là mười năm hạn đi đúng vào cung có sao Kình Dương. Bài này cho bạn tra ngay: can năm sinh ra cung nào, miếu hay hãm, hạn thứ mấy rơi vào đó. Cần đọc trên đúng lá số của mình, Viện có dịch vụ Xem mệnh lý.

Điểm chính

  • Can năm sinh cho biết Kình Dương ở cung nào, miếu hay hãm: tra Bảng 2.
  • Tính theo sách, can dương đều rơi đất hãm, can âm đều rơi đất miếu.
  • Sách không có câu riêng cho đại hạn Kình Dương ở từng cung; bảng cung trong bài nói lá số gốc.
  • Đọc cho lá số cụ thể và cách ứng xử trong mười năm ấy: Viện xem qua dịch vụ Xem mệnh lý.

01Đại vận Kình Dương là gì?

Đại vận Kình Dương là mười năm hạn đi đúng vào cung có sao Kình Dương trên lá số. Sách viết «đại hạn» (大限) cho chữ đại vận. Kình Dương an theo can năm sinh nên cả đời ở một cung; đại hạn chỉ «có Kình Dương» khi đi đến đúng cung ấy. Muốn nắm đại hạn nói chung, xem bài cách xem đại hạn 10 năm; về riêng sao này, xem bài sao Kình Dương trong Lục Sát Tinh.

Sách viết gì về mười năm đại vận Kình Dương?

Mục «Luận đại hạn mười năm hoạ phúc» ghi ba mức, tóm ở Bảng 1[1].

Bảng 1. Ba mức sách ghi cho mười năm đại hạn
Tình huống trong sáchLời sách
Cung và sao đều tốt, miếu vượng đắc địa, không có Kình Dương, Đà La, Hoả, Linh, Không, Kiếp«Mười năm yên ổn, người và của đều tốt.»
Trong hạn có Kình Dương, Đà La, Hoả, Linh, Không, Kiếp, Kỵ đi cùng«Thành bại không nhất định.»
Đủ ba điều: cung và sao ở đất hãm gặp nhóm sao ấy; thêm sát xấu của lưu niên họp vào; tiểu hạn đi gặp hung sát«Tai vạ quan sự, chết chóc thấy ngay.»

如宮分星纏全吉廟旺得地,無擎羊陀羅火鈴空劫者,主十年安靜,人財全美。若限內有擎羊陀羅火鈴空劫忌星為伴,成敗不一。如宮分星纏陷地,值擎羊陀羅火鈴空劫忌,又加流年惡殺湊合,及小限巡逢凶殺,則官災死亡立見。

Dòng thứ ba là lời sách cho trường hợp đủ cả ba điều, không phải lời dự báo cho người đọc.

Vì sao sách dặn sợ đi vào đất Kình Đà?

Sách xếp đất Kình Đà (Kình Dương, Đà La) vào điều phải sợ khi đi hạn. Quyển 3 viết: phàm đại hạn, tiểu hạn và thái tuế, «sợ đi vào đất Kình Dương, Đà La, và Kình Đà xung chiếu»[1]. Quyển 1 viết: «Kình Đà, Thất Sát, hạn vận chớ gặp; gặp thì ắt có hình thương»[3]. Câu này và câu «thành bại không nhất định» nói khác mức; Viện để nguyên cả hai, không tự hoà giải.

凡大小二限及太歲,……怕行擎羊陀羅之地,及羊陀沖照

羊陀七殺限運莫逢,逢之定有刑傷。

02Đại vận Kình Dương của bạn rơi vào hạn thứ mấy?

Lấy can năm sinh ra cung có Kình Dương, xem cung ấy mang tên gì trên lá số, rồi tra số thứ tự hạn theo chiều thuận hay nghịch. Làm theo bốn bước.

  1. 1Tìm can năm sinh trong Bảng 2Ra địa chi có Kình Dương, miếu hay hãm. Can dương: nam đi thuận, nữ đi nghịch. Can âm: nam đi nghịch, nữ đi thuận.
  2. 2Nhìn lá sốĐịa chi ấy đang là cung tên gì: Thiên Di, Phu Thê, Phụ Mẫu…
  3. 3Mở Bảng 3Tìm tên cung ở đúng cột thuận hoặc nghịch, đọc số đại hạn thứ mấy.
  4. 4Đối chiếu lá sốLá số của bạn ghi khác thì đọc theo lá số.

Can năm sinh cho Kình Dương ở cung nào?

Sao đứng ngay trước Lộc Tồn. Sách viết: «Hai sao này theo Lộc Tồn mà an, trước Lộc an Kình Dương, sau Lộc an Đà La. Giả như Quý, Lộc ở Tý, thì cung Sửu an Kình Dương, cung Hợi an Đà La; các can khác theo đó.»[2] Miếu, hãm theo dòng «Kình Dương miếu ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi; hãm ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu»[1]. Âm dương của can lấy theo bảng can[5].

此二星隨祿存安之,前安擎羊祿後安陀羅。假如癸祿在子,丑宮安擎羊,亥宮安陀羅,餘仿此。

擎羊 廟辰戌丑未 陷子午卯酉

Vòng địa chi: Kình Dương đứng trước Lộc Tồn một cung

Kình Dương đứng ngay trước Lộc Tồn một cung, miếu hay hãm theo từng cung Vòng mười hai địa chi, Tý ở trên cùng. Với mỗi can năm sinh, Kình Dương đứng ngay trước Lộc Tồn một cung. Giáp: Lộc Tồn ở Dần, Kình Dương ở Mão; Ất: Mão, Thìn; Bính: Tỵ, Ngọ; Đinh: Ngọ, Mùi; Mậu: Tỵ, Ngọ; Kỷ: Ngọ, Mùi; Canh: Thân, Dậu; Tân: Dậu, Tuất; Nhâm: Hợi, Tý; Quý: Tý, Sửu. Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là cung miếu; Tý, Ngọ, Mão, Dậu là cung hãm. Chữ vàng trong ô là can có Lộc Tồn ở cung ấy, chữ đỏ ngoài vòng là can có Kình Dương ở cung ấy. Kình Dương theo can năm sinh Kình Dương đứng ngay trước Lộc Tồn một cung Tý hãm Quý Sửu miếu Dần Giáp Mão hãm Ất Thìn miếu Tỵ Bính Mậu Ngọ hãm Đinh Kỷ Mùi miếu Thân Canh Dậu hãm Tân Tuất miếu Hợi Nhâm Giáp Ất Bính, Mậu Đinh, Kỷ Canh Tân Nhâm Quý Giáp: Dần → Mão Ất: Mão → Thìn Bính: Tỵ → Ngọ Đinh: Ngọ → Mùi Mậu: Tỵ → Ngọ Kỷ: Ngọ → Mùi Canh: Thân → Dậu Tân: Dậu → Tuất Nhâm: Hợi → Tý Quý: Tý → Sửu Miếu: Thìn, Tuất, Sửu, MùiHãm: Tý, Ngọ, Mão, DậuChữ vàng trong ô: can có Lộc Tồn ở cung ấyChữ đỏ ngoài vòng: can có Kình Dương ở cung ấyHình chạy: mỗi can sáng ô vàng (Lộc Tồn) rồi ô đỏ (Kình)
Hình 1. Vòng mười hai địa chi: mười can lần lượt cho thấy Lộc Tồn ở đâu, Kình Dương đứng ngay trước Lộc Tồn một cung, và rơi vào cung miếu hay hãm. Hình minh hoạ.

Bảng tra Kình Dương theo can năm sinh

Bảng 2. Can năm sinh ra Kình Dương, miếu hay hãm
Can năm sinhLộc TồnKình DươngSách xếp
GiápDầnMãoHãm
ẤtMãoThìnMiếu
BínhTỵNgọHãm
ĐinhNgọMùiMiếu
MậuTỵNgọHãm
KỷNgọMùiMiếu
CanhThânDậuHãm
TânDậuTuấtMiếu
NhâmHợiTýHãm
QuýTýSửuMiếu

Đại hạn thứ mấy rơi vào cung nào?

Sách cho dương nam, âm nữ đi thuận từ cung Phụ Mẫu; âm nam, dương nữ đi nghịch từ cung Huynh Đệ.[2] Đây là phép theo chữ sách, nên hạn cung Mệnh là hạn thứ 12. Lá số ghi khác thì đọc theo lá số.

陽男陰女從命前一宮起順行 是父母宮。陰男陽女從命後一宮起逆行 是兄弟宮

Bảng 3. Đại hạn thứ mấy rơi vào cung nào, theo chữ sách
Đại hạn thứĐi thuận (dương nam, âm nữ)Đi nghịch (âm nam, dương nữ)
1Phụ MẫuHuynh Đệ
2Phúc ĐứcPhu Thê (sách ghi Thê Thiếp)
3Điền TrạchTử Nữ
4Quan LộcTài Bạch
5Nô BộcTật Ách
6Thiên DiThiên Di
7Tật ÁchNô Bộc
8Tài BạchQuan Lộc
9Tử NữĐiền Trạch
10Phu Thê (sách ghi Thê Thiếp)Phúc Đức
11Huynh ĐệPhụ Mẫu
12MệnhMệnh

Ba ví dụ tra đại vận Kình Dương

Bảng 4. Ví dụ đã tính theo Bảng 2 và Bảng 3
Can, cung Mệnh, giớiĐại hạn thứCung của hạnKình Dương ởSách xếp
Canh, Mệnh Mão, nam hoặc nữ6Thiên DiDậuHãm
Quý, Mệnh Sửu, nam12MệnhSửuMiếu
Giáp, Mệnh Tỵ, nữ2Phu Thê (sách ghi Thê Thiếp)MãoHãm

Có số hạn rồi, muốn biết hạn ấy là những năm nào của mình và đọc ra sao: Viện đọc trên đúng lá số của bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện đọc đại hạn của bạn

03Trong mười năm đại vận Kình Dương, cần xem kỹ lúc nào?

Ghép hai câu sách thì Kình Dương, sao Bắc Đẩu, ứng ở năm năm đầu của đại hạn. Sách viết: «Lành dữ của các sao Bắc Đẩu, đại hạn đoán ứng ở năm năm đầu», và xếp Kình Dương là «phù tinh Bắc Đẩu, hoá Hình»[1][2]. Sách không nói câu này riêng cho Kình Dương; chính Viện ghép hai câu lại.

北斗諸星吉凶,大限斷上五年應

北斗浮星化刑

Xem đại hạn, tiểu hạn, thái tuế rồi mới đoán

Sách không cho đoán chỉ từ một đại hạn: «Phải xét đại hạn riêng lành dữ thế nào, tiểu hạn riêng, thái tuế riêng. Nếu tuế và hạn đều xấu thì xấu.» Rồi xét các tầng gặp nhau, «lại xem thái tuế xung đại hạn, tiểu hạn, thái tuế xung Kình Đà, Thất Sát, rồi mới đoán được lành dữ»[1]. Cách an tầng thứ hai xem bài cách an tiểu hạn.

須詳大限獨守吉凶何如,小限獨守吉凶何如,太歲獨守吉凶何如。如歲限俱凶則凶。……又看太歲沖大限小限,太歲沖羊陀七殺,然後可斷吉凶。

Muốn soát từng năm trong mười năm của mình: xem dịch vụ Xem mệnh lý của Viện.

04Đại vận có Kình Dương có phải luôn xấu?

Không: sách không nói luôn xấu, mà bắt xem sao ở đất miếu hay đất hãm. Quyển 3 viết «Kình Dương nhập miếu, phú quý tiếng tăm»[1]. Mục Tăng bổ Thái Vi phú dặn: «Mệnh quân tử cũng có Kình Đà, Hoả, Linh; mệnh tiểu nhân há không có Khoa, Lộc, Quyền. Phải xem đắc viên hay thất viên, chuyên luận nhập miếu hay thất miếu», và «dữ không phải đều dữ, lành không phải thuần lành»[3].

擎羊入廟富貴聲揚

君子命中亦有羊陀火鈴,小人命內豈無科祿權星。要看得垣失垣,專論入廟失廟。

凶不皆凶,吉無純吉。

Những câu nặng lời về đại vận Kình Dương

Sách có hai chỗ nặng lời, chưa kể phần thơ ở Bảng 5. Khẩu quyết an sao: «tuế hạn gặp đều không lợi»[2]. Quyển 3:«Kình Dương ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, không chết yểu thì cũng bị hình thương», kèm lời chú: Ngọ dữ, Mão kém hơn, Tý và Dậu lại kém hơn; «sao lành nhiều thì không luận»[1].

祿前擎羊後陀羅,夾限逢凶禍患多,歲限逢之俱不利,人生遇此莫蹉跎。

擎羊子午卯酉非夭折而刑傷。午凶卯次之。子酉又次之,馬頭帶劍,吉多勿論。

Ba câu thơ về Kình Dương giữ hạn

Quyển 2 có ba câu thơ nói thẳng về Kình Dương giữ hạn[2]. Đây là lời thơ trong sách, không phải lời dự báo của Viện.

Bảng 5. Thơ về Kình Dương giữ hạn: lời dịch và nguyên văn
Lời dịchNguyên văn
«Kình Dương giữ hạn phải xét kỹ; người sinh năm Tứ Mộ khỏi tai ương; nếu gặp Tử Vi, Văn Xương, Thiên Phủ họp thì tài quan hiển đạt, phúc lâu dài.»擎羊守限細推詳,四墓生人免災殃,若遇紫微昌府會,財官顯達福悠長。
«Thiên La, Địa Võng gặp Kình Dương, nhị hạn xung vào thì tai hoạ hại người; nếu sao chủ trong mệnh yếu thì một cơn bệnh về suối vàng.»天羅地網遇擎羊,二限沖兮禍患戕,若是命中主星弱,定教一疾夢黃泉。
«Kình Dương thêm sát là dữ nhất; nhị hạn đừng để gặp nó ở đất hãm: khắc con, hình vợ, bán ruộng vườn, bị đày đi lính.»擎羊加殺最為凶,二限休教落陷逢,克子刑妻賣田莊,徙流貶配去從戎。

Điều sách ghi làm nhẹ Kình Dương

Sách ghi vài điều làm nhẹ, và các điều này không phải cách hoá giải thực hành. «Kình Dương, Đà La, Thất Sát gặp Tử Vi, Thiên Tướng, Lộc Tồn tam hợp củng chiếu thì giải được.»[1] Hai sao hoá nói ngược nhau, nên phải giữ đúng sao của từng câu[3]: ở mục Hoá Lộc, đại hạn gặp Kình Đà xung chiếu «cũng không hại»; ở mục Hoá Quyền, đại hạn gặp Kình Đà thì «nghe lời gièm mang luỵ, tai vạ quan sự, bị giáng».

擎羊陀羅七殺逢紫微天相祿存三合拱照可解。

大限十年吉慶無疑,惡曜來臨並羊陀火忌沖照,亦不為害。

大限十年,必然遂志。如逢羊陀耗使劫空,聽讒貽累,官災貶謫。

Lá số của bạn có sao lành nào đi cùng, nên ứng xử thế nào trong mười năm ấy: sách đã kiểm không viết sẵn cho từng người. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem mệnh lý

Đọc thêm: Lục Sát Tinh trong Tử Vi, sao Thất Sát theo miếu hãm.

05Đại vận Kình Dương ở cung Phu Thê, Phụ Mẫu đọc thế nào?

Sách không có câu riêng cho đại hạn Kình Dương ở từng cung; các dòng dưới đây nói Kình Dương trên lá số gốc. Chỉ câu ở cung Phúc Đức nói hạn đi qua.

Cung Phu Thê khi có Kình Dương

Mục trong sách tên Thê Thiếp, viết chủ yếu cho nam mệnh, và nói lá số gốc. «Kình Đà nhập miếu thêm sao lành, lấy muộn thì khỏi hình khắc hoặc hoà thuận lâu; ở đất hãm thì khắc sớm; thêm Nhật, Nguyệt, Cự, Cơ, Hoả, Linh, Vũ, Sát thì chủ sinh ly.»[2] Mục Đẩu số chuẩn thằng thêm: «Nếu nói có con hay không, chuyên ở Kình Dương, Hao, Sát. Gặp thì hại vợ thiếp cũng vậy.»[3]

羊陀入廟加吉星,遲娶免刑或久和,陷地早克,加日月巨機火鈴武殺,主生離。

若言子媳有無,專在擎羊耗殺。逢之則害妻妾亦然。

Cung Phụ Mẫu khi có Kình Dương

Dòng này cũng nói lá số gốc, không phải câu về đại hạn. «Kình Dương hình khắc sớm; gặp Nhật, Nguyệt thì nhiều lần lui tổ nghiệp; thêm nhiều sao lành thì khỏi hình.»[2] Lời Ngọc Thiềm ở quyển 1 ghi Kình Đà «sợ đến ba cung Huynh Đệ, Điền Trạch, Phụ Mẫu»[3].

擎羊刑克早會日月重重退祖,加吉星眾免刑。

怕臨兄弟、田宅、父母三宮。

Kình Dương ở cung Huynh Đệ, Tử Nữ, Tài Bạch, Tật Ách, Thiên Di

Bảng 6. Lời sách về Kình Dương trên lá số gốc (quyển 2), phần một[2]
CungLời dịchNguyên văn
Huynh ĐệKình Dương, Linh khắc hại; miếu có một người; thêm nhiều sao lành có hai ba người; hãm thì không.羊玲克害入廟一人,眾吉星加有二三人,陷地全無。
Tử NữKình Đà cung hãm thì cô đơn; thêm sao lành, miếu vượng có một người.羊陀陷宮孤單,加吉星廟旺有一人
Tài BạchKình Dương ở Tứ Mộ, sinh tài nơi ồn ào; hãm thì phá tổ, không tụ, rốt cuộc không phát đạt.擎羊辰戌丑未宮鬧中生財,陷地破祖不聚終不能發達
Tật ÁchKình Dương có chứng đầu phong, hoặc tứ chi kém sức; đầu mặt phá tướng thì kéo được thọ; thêm sao lành thì ít tai.擎羊有頭瘋之症,或四肢欠力,頭面破相延壽,加吉星災少。
Thiên DiNhập miếu ra ngoài cơm áo vừa lòng; thêm sao lành phát tài nơi ồn ào; hãm thì có thành nhưng người dưới nhiều bất mãn.擎羊入廟在外衣祿遂心,加吉星鬧中發財,陷地有成下人多不足。

Câu ở cung Tật Ách là lời sách, không thay lời thầy thuốc.

Đại vận Kình Dương và các cung Nô Bộc, Quan Lộc, Điền Trạch, Phúc Đức

Bảng 7. Lời sách về Kình Dương trên lá số gốc (quyển 2), phần hai[2]
CungLời dịchNguyên văn
Nô BộcKình Dương phản chủ, chuốc oán, không đắc lực; có cũng không lâu; nhập miếu về già mới chiêu được.擎羊背主招怨不得力,有也不長久入廟晚年方可招。
Quan LộcNhập miếu lợi nhất võ chức; cùng sao lành thì quyền quý; hãm thì tầm thường, hư danh mà thôi.擎羊入廟最利武職,同吉星權貴,陷地平常,虛名而已。
Điền TrạchNhập miếu trước phá sau thành; hãm thêm Không Kiếp thì lui tổ nghiệp.擎羊入廟先破後成陷地加空劫退祖業。
Phúc ĐứcNhập miếu có phúc trong động; cung hãm lao tâm, kém sức; được sao lành cùng thì bớt lo; giữ một mình thì thân tâm không yên.擎羊入廟動中有福,陷宮勞心欠力,得吉星,同減憂獨守身心不安。
Phúc Đức, hạn đi qua«Tuế quân, đại tiểu hạn đi qua, gặp lành thì hưởng phúc, gặp dữ thì lao lực vất vả.»歲君大小限過,逢吉則享福,逢凶則勞力辛苦。

Đang đi mười năm ở cung Phu Thê, Phụ Mẫu hay cung khác và muốn đọc riêng trên lá số của bạn: sách không viết sẵn, Viện đọc qua dịch vụ Xem mệnh lý. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện đọc mười năm của bạn

06Đại vận Kình Dương khác Thái Dương, Dương Lương chỗ nào?

Chữ khác, sao khác: Kình Dương viết 擎羊, Thái Dương viết 太陽, còn Dương Lương 陽梁 là hai sao Thái Dương với Thiên Lương. Tiếng Việt cùng đọc «Dương» nên dễ lẫn. Sách có câu «gặp Thái Dương, Thiên Lương, Lộc Tồn thì tài quan rạng rỡ» ở mục Văn Xương, cho thấy Dương Lương là hai sao[2].

會陽梁祿存財官昭卓

Bảng 8. Ba tên dễ lẫn khi đọc đại hạn[2]
TênChữ HánSách xếpVào hạn, sách ghi
Kình Dương擎羊Phù tinh Bắc Đẩu, hoá HìnhXem phần 01 và phần 04.
Thái Dương太陽Nam Bắc Đẩu, hoá Quý«Nhị hạn rất hợp gặp Thái Dương»; «ở đất hãm phải phòng ác sát xâm».
Dương Lương陽梁Hai sao: Thái Dương với Thiên Lương (Nam Đẩu, hoá Ấm)Thiên Lương: «giữ hạn thọ kéo dài»; «nếu gặp Hoả, Linh, Kình Đà họp thì phải phòng một ách và nhà tan».

二限偏宜見太陽

太陽守限有多般,陷地須防惡殺侵

天梁守限壽延長,作事求謀更吉昌,若遇火鈴羊陀合,須防一厄與家亡。

07Hỏi – đáp về đại vận Kình Dương

Đại vận và đại hạn có phải một không?

Trong bài này là một. Sách Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư viết đại hạn (大限), mỗi hạn mười năm; «nhị hạn» trong sách là đại hạn và tiểu hạn. Trang khoá học của Viện dùng tên Đại Vận.

Đang ở đại vận có Kình Dương thì nên làm gì?

Việc đầu tiên là tra Bảng 2 để biết sao ở đất miếu hay hãm, rồi soát đại hạn, tiểu hạn, thái tuế như sách dặn. Cách ứng xử cho lá số cụ thể thì nguồn đã kiểm không viết sẵn; Viện đọc qua dịch vụ Xem mệnh lý.

Chưa có lá số thì tra thế nào?

Bảng 2 chỉ cần can năm sinh. Muốn biết địa chi ấy là cung gì thì cần lá số. Công cụ lập lá số của Viện đang xây dựng, chưa mở cho người dùng; trong lúc chờ, bạn liên hệ Viện qua trang Liên hệ.

Dịch vụ và khoá học về đại vận Kình Dương

Dịch vụ Xem mệnh lý của Viện gồm những gì?

Xem mệnh lý là phân tích lá số, luận giải vận trình về sự nghiệp, tài lộc, hôn nhân, sức khoẻ, theo nhiều bộ môn và đối chiếu chéo, trong đó có Tử Vi Đẩu Số. Liên hệ để được báo giá.

Muốn tự đọc đại vận thì học khoá nào?

Khoá Tử Vi Đẩu Số (PT-ML301) dạy lập lá số, phân tích 12 cung và các sao chính, đoán vận hạn theo Đại Vận và Tiểu Vận. Cần học PT-102 trước. Khoá học trực tiếp tại 29 Cộng Hòa, TP.HCM, không học trực tuyến.

Nguồn tham khảo

  1. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư 紫微斗數全書 (tương truyền gốc từ Trần Đoàn; lời tựa đề La Hồng Tiên, năm Gia Tĩnh Canh Tuất 1550), quyển 3, các mục «論大限十年禍福何如», «論二限太歲吉凶», «論行限分南北斗», «論諸星同垣各司所宜», «論七殺重逢». Bản Wikisource, quyển 3.
  2. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển 2, các mục «安擎羊陀羅二星訣», «安大限訣», «論諸星分屬南北斗», thơ về Kình Dương giữ hạn, thơ Thái Dương và Thiên Lương vào hạn, các mục mười hai cung. Bản Wikisource, quyển 2.
  3. Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, quyển 1, các mục «斗數發微論», «增補太微賦», «羊陀二星總論», «斗數準繩», và hai mục Hoá Lộc, Hoá Quyền. Bản Wikisource, quyển 1.
  4. Niên đại và tác giả của sách còn phải khảo cứu; bài không khẳng định tác giả. Wikipedia tiếng Trung: 紫微斗數.
  5. Âm dương của can: Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm là dương; Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý là âm. Wikipedia tiếng Trung: 天干.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong các nguồn trên, hoặc tính lại đúng theo chữ sách và đối chiếu với ví dụ trong sách. Bản Wikisource không đánh số tờ nên bài ghi quyển và tên mục; dấu câu chữ Hán theo bản số hoặc do Viện thêm. Lời dịch là lời dịch sát của Viện. Câu trong «» là lời sách cổ, không phải dự báo cho người đọc.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →