Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Mặt bằng Bát Trạch là gì? Cách chia 8 cung trên sơ đồ nhà và đọc hướng tốt xấu

1 tháng 11, 2026 15 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Mặt bằng Bát Trạch là sơ đồ nhà chia ra tám cung theo tám quẻ, mỗi cung một phương. Bài cho bảng tra tám cung theo độ la bàn, bảng tám sao tốt xấu, và nói rõ chỗ sách cổ không ghi để Viện xem riêng cho nhà bạn.

Điểm chính

  • Vòng la bàn có 24 sơn; mỗi quẻ quản ba sơn, sách gọi là «tám cung»[1].
  • Chia đều 360° thì mỗi sơn 15°, mỗi cung 45°. Sách không ghi số độ; số độ trong bài do Viện tính chia đều.
  • Khảm, Ly, Chấn, Tốn là Đông tứ trạch; Càn, Đoài, Cấn, Khôn là Tây tứ trạch. Cùng nhóm là cát, lẫn nhóm là hung[1].
  • Đặt cửa, bếp, giường vào cung nào: sách đã kiểm không nói. Viện khảo sát cho đúng căn nhà.

01Mặt bằng Bát Trạch là gì?

Mặt bằng Bát Trạch là sơ đồ nhà được chia ra tám cung theo tám quẻ, rồi đọc mỗi cung gặp sao tốt hay sao xấu.

«Bát» là tám, «trạch» là nhà. Phần gốc của phép bát trạch Viện đã viết ở bài trụ. Bài này chỉ nói phần đặt phép ấy lên sơ đồ nhà.

Bộ Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư (sách chọn ngày soạn theo lệnh vua Càn Long, lời tựa năm 1741) gọi phép tám sao này là «Đại du niên biến quái» (đổi quẻ theo vòng du niên lớn). Sách viết: «Đại du niên biến quái là phép nhà tướng trạch (người xem nhà) dùng.»[1]

大遊年變卦,相宅家用之。

Làm mặt bằng Bát Trạch gồm ba việc: chia tám cung (phần 02), biết mỗi cung bao nhiêu độ (phần 03), rồi đọc sao tốt xấu (phần 04).

02Cách chia 8 cung trên sơ đồ mặt bằng nhà?

Từ điểm giữa nhà, chia bốn phía thành 24 phần (24 sơn), gộp mỗi ba sơn thành một cung, được tám cung như Bảng 1.

Trạch Kinh (sách xem nhà, đề tên Hoàng Đế) viết: «24 lộ là: tuỳ nhà lớn hay nhỏ, từ sân giữa chia bốn mặt làm 24 lộ.»[3]

二十四路者,隨宅大小,中院分四面作二十四路。

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư cho biết 24 sơn chia về tám quẻ thế nào: «Mỗi quẻ quản ba sơn: Tuất, Càn, Hợi thuộc Càn; Nhâm, Tý, Quý thuộc Khảm; Sửu, Cấn, Dần thuộc Cấn; Giáp, Mão, Ất thuộc Chấn; Thìn, Tốn, Tỵ thuộc Tốn; Bính, Ngọ, Đinh thuộc Ly; Mùi, Khôn, Thân thuộc Khôn; Canh, Dậu, Tân thuộc Đoài. Gọi là tám cung.»[1]

以二十四山分屬八卦,則一卦筦三山:戌乾亥屬乾,壬子癸屬坎,丑艮寅屬艮,甲卯乙屬震,辰巽巳屬巽,丙午丁屬離,未坤申屬坤,庚酉辛屬兌,謂之八宫。

Phương của từng quẻ theo Hậu thiên (cách xếp quẻ theo phương): Khảm Bắc, Ly Nam, Chấn và Tốn phía Đông, Đoài và Càn phía Tây[2]. Lời chú Trạch Kinh ghi Càn Tây Bắc, Tốn Đông Nam[3]. Cấn Đông Bắc, Khôn Tây Nam là Viện suy từ thứ tự vòng 24 sơn: Sửu Cấn Dần nằm giữa Tý và Mão, Mùi Khôn Thân nằm giữa Ngọ và Dậu.

Bảng 1. Tám cung trên mặt bằng Bát Trạch (độ do Viện chia đều 360°, Tý ở 0°)
CungPhươngBa sơnKhoảng độNhóm
KhảmBắcNhâm, Tý, Quý337,5° – 22,5°Đông tứ trạch
CấnĐông BắcSửu, Cấn, Dần22,5° – 67,5°Tây tứ trạch
ChấnĐôngGiáp, Mão, Ất67,5° – 112,5°Đông tứ trạch
TốnĐông NamThìn, Tốn, Tỵ112,5° – 157,5°Đông tứ trạch
LyNamBính, Ngọ, Đinh157,5° – 202,5°Đông tứ trạch
KhônTây NamMùi, Khôn, Thân202,5° – 247,5°Tây tứ trạch
ĐoàiTâyCanh, Dậu, Tân247,5° – 292,5°Tây tứ trạch
CànTây BắcTuất, Càn, Hợi292,5° – 337,5°Tây tứ trạch

Bốn bước chia cung trên bản vẽ

  1. Đo hướng Bắc bằng la bàn, đánh dấu lên bản vẽ.
  2. Lấy điểm giữa nhà làm tâm, như Trạch Kinh nói «từ sân giữa chia bốn mặt».
  3. Từ tâm kẻ tám đường ranh ở 22,5°, 67,5°, 112,5°, 157,5°, 202,5°, 247,5°, 292,5°, 337,5°.
  4. Ghi tên cung vào tám ô theo Bảng 1. Muốn chi tiết hơn, chia mỗi cung làm ba sơn theo Bảng 2.

Sách đã kiểm chỉ nói «sân giữa». Lấy tâm trên bản vẽ nhà phố, nhà méo, nhà khuyết góc thế nào thì sách không ghi.

Nhà méo, khuyết góc, không biết tâm ở đâu: Viện đến khảo sát và chia cung trên chính bản vẽ nhà bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện chia cung cho nhà

03Mỗi cung ứng với bao nhiêu độ la bàn?

Chia đều 360° cho 24 sơn thì mỗi sơn 15°, mỗi cung ba sơn là 45°; cung Khảm từ 337,5° đến 22,5°.

Sách không ghi số độ. Sách chỉ nói vòng chính châm (kim chuẩn của la bàn) là vị trí chuẩn của 24 sơn, dùng để định hướng[1]. Số độ dưới đây Viện tính bằng code: chia đều 360°, Tý đặt giữa ở 0° (chính Bắc). Kết quả khớp La bàn Bát Trạch của Viện, ví dụ «Tọa Bính hướng Nhâm» 337,5°–352,5°.

一曰正針,乃二十四山之正位,定向用之。

Bảng 2. 24 sơn, mỗi sơn 15° (Viện chia đều, Tý tâm 0°)
CungSơn thứ nhấtSơn giữaSơn thứ ba
KhảmNhâm 337,5° – 352,5°Tý 352,5° – 7,5°Quý 7,5° – 22,5°
CấnSửu 22,5° – 37,5°Cấn 37,5° – 52,5°Dần 52,5° – 67,5°
ChấnGiáp 67,5° – 82,5°Mão 82,5° – 97,5°Ất 97,5° – 112,5°
TốnThìn 112,5° – 127,5°Tốn 127,5° – 142,5°Tỵ 142,5° – 157,5°
LyBính 157,5° – 172,5°Ngọ 172,5° – 187,5°Đinh 187,5° – 202,5°
KhônMùi 202,5° – 217,5°Khôn 217,5° – 232,5°Thân 232,5° – 247,5°
ĐoàiCanh 247,5° – 262,5°Dậu 262,5° – 277,5°Tân 277,5° – 292,5°
CànTuất 292,5° – 307,5°Càn 307,5° – 322,5°Hợi 322,5° – 337,5°

Sơn và hướng đi thành cặp đối nhau. Sách viết: nói sơn thì hướng đã ở trong đó, như sơn Tý ắt hướng Ngọ, sơn Nhâm ắt hướng Bính[1].

隂陽家名二十四山,言山則向在其中,如子山則必午向,午山則必子向。

Không muốn tự tra bảng: nhập độ toạ, độ hướng hoặc chọn sơn trên La bàn Bát Trạch miễn phí của Viện.

04Đọc hướng tốt xấu trên mặt bằng thế nào?

Tìm hàng bản cung (quẻ gốc) trong Bảng 3, đọc sang: bốn cột đầu là bốn phương cát, bốn cột sau là bốn phương hung.

Sách nêu phép lật hào (đổi nét quẻ): «Đổi một hào trên là Sinh Khí; đổi hai hào dưới là Thiên Y; đổi cả ba hào là Diên Niên; không đổi hào nào là Phục Vị… Đều là lão, thiếu tự phối với nhau nên là cát. Ngoài ra là lão thiếu giao lẫn nên là hung.»[1]

翻卦之法皆以上一爻變為生氣貪狼,下二爻變為天醫巨門,三爻俱變為延年武曲,三爻俱不變為伏位輔弼。……皆老少各自相配,故為吉也;外此則老少交錯相配,故為凶也。

Bảng 3 Viện tính bằng code theo đúng thứ tự lật hào của sách, đối chiếu khớp cả tám hàng với bảng tám hướng của bộ máy Viện. Sao thứ tám sách viết 絶命, bài ghi là Tuyệt Mệnh.

Bảng 3. Tám sao theo bản cung: bốn sao cát (trái), bốn sao hung (phải)
Bản cungSinh KhíThiên YDiên NiênPhục VịHọa HạiLục SátNgũ QuỷTuyệt Mệnh
KhảmĐông NamĐôngNamBắcTâyTây BắcĐông BắcTây Nam
LyĐôngĐông NamBắcNamĐông BắcTây NamTâyTây Bắc
ChấnNamBắcĐông NamĐôngTây NamĐông BắcTây BắcTây
TốnBắcNamĐôngĐông NamTây BắcTâyTây NamĐông Bắc
CànTâyĐông BắcTây NamTây BắcĐông NamBắcĐôngNam
ĐoàiTây BắcTây NamĐông BắcTâyBắcĐông NamNamĐông
CấnTây NamTây BắcTâyĐông BắcNamĐôngBắcĐông Nam
KhônĐông BắcTâyTây BắcTây NamĐôngNamĐông NamBắc

Ba bước đọc tốt xấu trên sơ đồ

  1. Chọn hàng bản cung trong Bảng 3.
  2. Đọc phương của từng sao trong hàng ấy.
  3. Ghi tên sao vào ô cung cùng phương trên mặt bằng đã chia ở phần 02: bốn ô cát, bốn ô hung.

Ví dụ hàng Khảm: Sinh Khí ở Đông Nam, Thiên Y ở Đông, Diên Niên ở Nam, Phục Vị ở Bắc là bốn ô cát; Tây, Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nam là bốn ô hung. Người có Cung Phi Khảm xem thêm bài Cung Phi Khảm: 4 hướng tốt và 4 hướng xấu.

Mặt bằng Bát Trạch: tám cung 45°, bốn ô cát và bốn ô hung (ví dụ hàng Khảm) Mặt bằng nhà nhìn từ trên xuống, chia từ tâm ra tám cung, mỗi cung 45 độ, 0 độ là chính Bắc, ranh cung ở 22,5, 67,5, 112,5, 157,5, 202,5, 247,5, 292,5 và 337,5 độ. Vòng trong ghi tên cung: Khảm Bắc, Cấn Đông Bắc, Chấn Đông, Tốn Đông Nam, Ly Nam, Khôn Tây Nam, Đoài Tây, Càn Tây Bắc. Vòng ngoài ghi sao rơi vào từng phương theo hàng bản cung Khảm: bốn ô cát là Sinh Khí ở Đông Nam, Thiên Y ở Đông, Diên Niên ở Nam, Phục Vị ở Bắc; bốn ô hung là Họa Hại ở Tây, Lục Sát ở Tây Bắc, Ngũ Quỷ ở Đông Bắc, Tuyệt Mệnh ở Tây Nam. Hình cho thấy mỗi sao nằm ở ô nào trên mặt bằng. Tám cung trên mặt bằng nhà Ví dụ hàng Khảm · 0° là chính Bắc, mỗi cung 45° Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài Càn Phục VịBắc Thiên YĐông Sinh KhíĐông Nam Diên NiênNam Ngũ QuỷĐông Bắc Tuyệt MệnhTây Nam Họa HạiTây Lục SátTây Bắc 22,5° 67,5° 112,5° 157,5° 202,5° 247,5° 292,5° 337,5° Bốn ô cátSinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị Bốn ô hungHọa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh Số độ: Viện chia đều 360°.
Hình 1. Tám cung 45° trên mặt bằng nhà, mỗi sao nằm ở ô nào, lấy hàng Khảm làm ví dụ: bốn ô cát sáng trước, bốn ô hung sáng sau. Hình minh hoạ.

Nhà bạn lấy bản cung theo toạ nhà hay theo Cung Phi người ở, và phối hai bên thế nào: các sách Viện đã kiểm không nêu cách phối.

Chưa biết nhà mình đọc theo hàng nào, hoặc ô quan trọng rơi vào sao hung: Viện xem riêng cho căn nhà. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Yêu cầu Viện xem nhà

05Đông Tứ Trạch và Tây Tứ Trạch khác nhau thế nào?

Đông tứ trạch gồm Khảm, Ly, Chấn, Tốn; Tây tứ trạch gồm Càn, Đoài, Cấn, Khôn. Phối trong cùng nhóm là cát, phối lẫn hai nhóm là hung.

Sách viết: «Phép dương trạch lấy Càn, Đoài làm lão dương; Cấn, Khôn làm lão âm; Ly, Chấn làm thiếu âm; Tốn, Khảm làm thiếu dương. Hai lão phối nhau là Tây tứ trạch, hai thiếu phối nhau là Đông tứ trạch. Đông, Tây mỗi bên tự phối là cát, giao lẫn mà phối là hung.»[1]

蓋陽宅之法以乾兌為老陽,艮坤為老隂,離震為少隂,巽坎為少陽,二老相配為西四宅,二少相配為東四宅,東西各自相配為吉,交錯相配為凶。

Bảng 4. Hai nhóm tứ trạch trên mặt bằng
NhómBốn cung (phương)Gặp cung cùng nhómGặp cung khác nhóm
Đông tứ trạchKhảm (Bắc), Ly (Nam), Chấn (Đông), Tốn (Đông Nam)Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục VịHọa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh
Tây tứ trạchCàn (Tây Bắc), Đoài (Tây), Cấn (Đông Bắc), Khôn (Tây Nam)Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục VịHọa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh

Viện kiểm bằng code cả 64 cặp cung: cùng nhóm luôn ra một trong bốn sao cát, khác nhóm luôn ra một trong bốn sao hung, đúng như câu sách.

Trạch Kinh dùng một phép chia khác, đừng lẫn với Đông, Tây tứ trạch. Sách ấy cho Càn dẫn ba con trai Chấn, Khảm, Cấn thuộc vị dương; Khôn dẫn ba con gái Tốn, Ly, Đoài thuộc vị âm[3]. Như vậy Càn, Khảm, Cấn, Chấn đứng chung một bên, khác hẳn cách gộp của Bảng 4. Hai phép là hai lối khác nhau; Viện không gộp làm một.

乾將三男震坎艮悉屬於陽位……坤將三女巽離兊悉屬陰之位

Lời đề yếu của Tứ khố toàn thư cho Trạch Kinh là sách người sau gửi tên Hoàng Đế, nhưng khen phép của sách «khá có nghĩa lý»[4].

06Đặt cửa chính, bếp, giường ngủ theo mặt bằng ra sao?

Các sách Viện đã kiểm không chỉ đặt cửa, bếp, giường vào cung nào; việc này Viện khảo sát theo từng căn nhà.

Trạch Kinh chỉ ví: nhà lấy nhà cửa làm áo quần, lấy cửa ngõ làm mũ đai[3]. Câu này nói cửa ngõ quan trọng, không nói đặt cửa ở cung nào.

以舍屋為衣服,以門户為冠帶。

Vì vậy Viện không viết sẵn công thức «cửa ở cung này, bếp ở cung kia» cho mọi nhà.

Sắp xây, sửa hay mua nhà và cần xếp cửa, bếp, giường: Viện khảo sát tại chỗ. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Đặt lịch khảo sát nhà

07Hỏi – đáp

Vì sao 24 sơn không có Mậu, Kỷ?

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư giải: thiên can không dùng Mậu, Kỷ vì Mậu Kỷ là thổ ở trung ương, không có vị trí nhất định. Vòng 24 sơn vì vậy gồm bốn quẻ góc, tám can và mười hai chi.

天干不用戊巳者,戊巳為中央土無定位也。

Vì sao bốn phương chính ghi Tý, Ngọ, Mão, Dậu mà không ghi tên quẻ?

Sách viết tám quẻ chỉ dùng ở bốn góc, vì bốn quẻ chính trùng đúng vị trí các chi Tý, Ngọ, Mão, Dậu, nên dùng chi thay quẻ; dùng chi tức là dùng quẻ. Vì thế vòng 24 sơn chỉ có Càn, Cấn, Tốn, Khôn là tên quẻ.

Sao thứ tám viết là Tuyệt Mệnh?

Sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư viết 絶命, đọc là Tuyệt Mệnh. Khi tra theo Cung Phi, Viện dùng bộ tên Bát Trạch: Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị, Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh.

Số độ mỗi cung có ghi trong sách cổ không?

Không. Sách chỉ cho thứ tự 24 sơn và nói vòng chính châm dùng để định hướng. Con số 15° mỗi sơn, 45° mỗi cung là Viện chia đều 360°, khớp với La bàn Bát Trạch trên trang của Viện.

Viện xem phong thủy nhà gồm những gì?

Khảo sát và tư vấn bố trí không gian nhà ở, văn phòng, mặt bằng kinh doanh, đất đai: đánh giá hướng, hình thế, dòng khí, đề xuất bố trí và hoá giải. Bộ môn gồm Huyền Không Phi Tinh, Huyền Không Đại Quái, Dương Công Bát Trạch, Loan đầu. Báo giá theo từng trường hợp.

Muốn tự dùng la bàn thì học khoá nào?

Khoá Phong Thủy Đại Cương (PT-102) gồm 10 buổi, mỗi buổi 3 giờ, có phần dùng la bàn phong thủy. Học viên cần học PT-101 trước; lớp học trực tiếp tại 29 Cộng Hòa, TP.HCM. Xem lịch ở trang Lịch khai giảng.

Nguồn tham khảo

  1. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư 欽定協紀辨方書 (đời Thanh, soạn theo lệnh vua Càn Long, lời tựa năm Càn Long thứ 6, 1741; Tứ khố toàn thư), quyển 2 «本原二» (Bản nguyên): mục «Nhị thập tứ phương vị» 二十四方位 tờ 2b–3a; ba kim tờ 7a; mục «Đại du niên biến quái» 大遊年變卦 tờ 43a–44b; bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0051.
  2. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 1 «本原一»: mục «Hà Đồ» tờ 4b và mục «Hậu thiên quái phối Hà Đồ chi tượng» (dẫn Khải Mông phụ luận) tờ 11b; bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0051.
  3. Trạch Kinh 宅經 (đề Hoàng Đế; Tứ khố toàn thư), quyển thượng: đoạn «二十四路» tờ 2b, đoạn «以門户為冠帶» tờ 7b; bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0019.
  4. Trạch Kinh 宅經, lời đề yếu (提要) của Tứ khố toàn thư, tờ 1a–1b. Bản Kanripo KR3g0019.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên hoặc tính bằng code theo đúng thứ tự của sách. Bản Kanripo không chấm câu; chấm câu chữ Hán trong bài do Viện thêm. Số độ là Viện chia đều 360°. Bố trí cụ thể cho từng căn nhà cần khảo sát tại chỗ.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →