Tra nhanh Văn Xương Văn Khúc Quan Lộc: hợp nghề gì theo đúng lời sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư, kèm bảng tra theo giờ sinh để bạn tự xem hai sao đóng ở cung nào.
Điểm chính
- Văn Xương chủ khoa giáp, tức thi cử, đỗ đạt[1].
- Ở Quan Lộc, Văn Xương nhập miếu đồng Thái Dương có Khoa, Quyền, Lộc là tài văn võ; đồng Thiên Phủ, Văn Khúc thì phú quý song toàn[2].
- Ngay trong một bộ sách, miếu hãm của hai sao đã ghi lệch nhau giữa quyển 1, 2 và 3. Bài nêu đủ cả ba.
- Tìm giờ sinh trong Bảng 5 là biết hai sao đóng cung nào. Có rơi vào Quan Lộc của bạn không thì cần cả lá số: Viện xem riêng.
01Cung Quan Lộc có Văn Xương, Văn Khúc thì hợp nghề gì?
Sách cổ xếp Quan Lộc có Văn Xương, Văn Khúc vào đường quan văn và thi cử: miếu vượng hợp cả văn lẫn võ, gặp sát tinh thì thành bình thường.
Quan Lộc là cung xem đường công danh, sự nghiệp. Miếu là chỗ sao mạnh nhất, hãm là chỗ sao yếu. Sách Tử Vi Đẩu Số toàn thư nói bằng chức vị thời xưa: quan văn, tư lại, công lại, chức phong hiến. Sách không kể tên nghề của ngày nay. Bảng 1 chép đúng từng điều kiện sách nêu.
| Điều kiện ở Quan Lộc | Lời sách |
|---|---|
| Văn Xương nhập miếu, đồng Thái Dương, thêm Khoa, Quyền, Lộc | Người có tài văn võ[2] |
| Văn Xương đồng Thiên Phủ, Văn Khúc | Phú quý song toàn[2] |
| Văn Khúc miếu vượng | Văn hay võ đều hợp[2] |
| Văn Khúc ở cung hãm, đồng Thiên Cơ, Thái Âm | Tư lại (lại viên trong nha môn) có quyền thế[2] |
| Văn Khúc hội Tử Vi, Thiên Phủ, Tả Phù, Hữu Bật | Thường gần vua, nắm việc chính sự[2] |
| Văn Khúc thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp | Bình thường[2] |
| Xương, Khúc thêm Tử Vi, Thiên Tướng, có Quyền, Lộc tới | Giữ chức phong hiến (quan giám sát, giữ phép nước)[2] |
Nguyên văn sách về Văn Xương, Văn Khúc ở Quan Lộc
Câu gốc của hai hàng đầu và các hàng về Văn Khúc nằm trong mục «Cửu quan lộc» của quyển 2[2]:
文昌入廟太陽同加吉科權祿,文武之材,同天府文曲富貴雙全。
文曲廟旺文武皆宜,陷宮與天機太陰同宮,胥吏權貴,會紫府左右近君頻而執政,加羊陀火鈴空劫平常。
Trích Tử Vi Đẩu Số toàn thư, bài «Định văn quan»
«Quan văn nhờ Xương, Khúc mà khoác áo triều; trong cung Quan Lộc mừng có hai sao ấy. Thêm Tử Vi, Thiên Tướng lại có Quyền, Lộc tới, ắt giữ chức phong hiến, làm nghiêm nghi lễ triều đình.»
文官昌曲掛朝衣,官祿之中喜有之,紫相更兼權祿至,定居風憲肅朝儀。
Mục hỏi đáp về Văn Khúc ở quyển 1 cũng viết: Văn Khúc ở Quan Lộc thì «được gặp mặt vua mà nắm chính sự»[1].
於官祿面君顏而執政。
Văn Xương, Văn Khúc ở Quan Lộc gặp sát tinh thì sao?
Sách cho rằng hung sát phá vào thì chỗ tốt của Xương, Khúc cũng hoá xấu. Bài «Định lưỡng quan phủ» viết: «Hai sao Xương, Khúc khó gặp nhất; gặp được thì dựng cờ tiết, phong hầu giữa tiếng cười nói. Nếu hung sát tới phá thì dù chỗ tốt cũng hoá xấu»[2].
昌曲二曜最難逢,建節封侯笑語中,若然凶殺來臨破,須然好處也成凶。
Nhiều người đọc nhầm luận «văn chức» sang cung Quan Lộc. Câu ấy nằm trong mục «Mười bậc phú quý bần tiện» ở quyển 1, và xét cung Mệnh: Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt ngồi Mệnh ở cung vượng, tam phương tứ chính có Khoa, Quyền, Lộc chiếu về thì chủ làm quan văn[1]. Sách không nói câu ấy cho Quan Lộc.
Sách chỉ nói quan văn, tư lại, phong hiến. Muốn biết lá số của bạn hợp ngành nào hôm nay, Viện xem riêng cả Mệnh, Quan Lộc, Tài Bạch. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện xem lá số Tử Vi02Văn Xương, Văn Khúc ở Quan Lộc miếu hãm ra sao?
Sách ghi không thống nhất: quyển 3 cho hai sao miếu ở Tỵ, Dậu, Sửu và hãm ở Dần, Ngọ, Tuất; quyển 2 lại cho Văn Xương đắc địa ở Dần, Ngọ, Tuất.
Viện giữ cả hai cách ghi, không tự hoà giải. Xem Văn Xương, Văn Khúc ở Quan Lộc thì trước hết nhìn cung Quan Lộc thuộc chi nào, rồi dò Bảng 2.
| Cung | Văn Xương (q.3) | Văn Khúc (q.3) | Văn Xương (q.2) | Văn Khúc (q.2) |
|---|---|---|---|---|
| Tỵ, Dậu, Sửu | miếu | miếu | nhập miếu | nhập miếu |
| Thân, Tý, Thìn | đắc địa | đắc địa | đắc địa | đắc địa |
| Dần, Ngọ, Tuất | hãm | hãm | đắc địa | Dần hoà bình; Ngọ, Tuất hãm địa |
| Hợi, Mão, Mùi | không ghi | không ghi | lợi ích | vượng địa |
Nguồn: quyển 3, mục «Luận chư tinh đồng viên»[3]; quyển 2, phần phú riêng của Văn Xương và Văn Khúc[2].
Bài ca quyển 1 lại ghi khác
Bài ca trong mục hỏi đáp về Văn Xương viết: «Văn Xương chủ khoa giáp; Thìn, Tỵ là đất vượng; lợi ở Ngọ, ngại Mão, Dậu»[1]. Câu «lợi ở Ngọ» trái với quyển 3, nơi Ngọ là hãm. Câu «ngại Dậu» trái với cả quyển 2 lẫn quyển 3, nơi Dậu là miếu.
文昌主科甲,辰巳是旺地,利午嫌卯酉
Về đất hãm, bài ca mục «Lưu niên Xương Khúc» viết: «Nếu gặp đất hãm thì như mạ lên mà không trổ hạt; không phải hạng công lại thì là thợ số thuật trong cửu lưu»[1]. Câu này nói chung về Xương, Khúc trên mệnh người, không nói riêng cung Quan Lộc.
若還逢陷地,苗而不秀實,不是公吏輩,九流工數術
03Văn Xương, Văn Khúc ở Quan Lộc đi cùng chính tinh nào thì tốt?
Mục «Cửu quan lộc» ghi sáu chính tinh gặp Xương, Khúc là tốt: Tử Vi, Thái Dương, Vũ Khúc, Thái Âm, Thiên Tướng, Phá Quân; câu Văn Xương thêm Thiên Phủ.
| Chính tinh | Điều kiện sách nêu | Lời sách |
|---|---|---|
| Tử Vi | Miếu vượng, gặp Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt | Hiển đạt, chức tới phong hầu bá |
| Thái Dương | Nhập miếu, cùng Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, lại có Khoa Lộc Quyền | Bậc quý nhất phẩm |
| Vũ Khúc | Nhập miếu, đồng cung Xương Khúc, Tả Hữu | Võ chức vẻ vang; người thường thì phát phúc |
| Thái Âm | Nhập miếu, hội Thái Dương, Xương Khúc, Tả Hữu | Quý bậc tam phẩm |
| Thiên Tướng | Nhập miếu, đồng Xương Khúc, Tả Hữu | Quyền hiển, vinh quý |
| Phá Quân | Miếu vượng; đồng Vũ Khúc thêm Quyền, Lộc, gặp Văn Xương, Văn Khúc | Hiển đạt (miếu vượng một mình thì võ chức vẻ vang) |
| Thiên Phủ | Đồng Văn Xương, Văn Khúc | Phú quý song toàn |
| Thiên Cơ, Thái Âm | Văn Khúc ở cung hãm, đồng cung | Tư lại có quyền thế |
Nguồn Bảng 3: quyển 2, mục «Cửu quan lộc»[2]. Nguyên văn các hàng chính:
紫微廟旺遇左右昌曲魁鉞,軒勝位至封候伯……太陽入廟文武為良,不見羊陀火鈴吉,太陰同貴顯,左右昌曲魁鉞同更君科祿權,定居一品之貴……武曲入廟與昌曲左右同宮,武職崢嶸,常人發福……太陰入廟多貴,陷地氣高橫破難顯達,會太陽昌曲左右三品之貴……天相入廟文武皆宜食祿千鍾,陷地成敗,紫微同權貴,昌曲左右同權顯榮貴……破軍廟旺武職軒勝,武曲同加權祿,文昌文曲顯達
Trích Tử Vi Đẩu Số toàn thư, «Thái vi phú»
«Thái Dương hội Văn Xương ở cung Quan Lộc: đứng ban chầu nơi điện vua, phú quý trọn vẹn.»
太陽會文昌於官祿,皇殿朝班,富貴全美。
Liêm Trinh, Thái Âm với Văn Khúc: câu không riêng Quan Lộc
Mục hỏi đáp về Văn Khúc ở quyển 1 còn hai câu hay bị gán cho Quan Lộc: «Ở chung với Liêm Trinh ắt làm công lại (lại viên nơi công đường). Thân đi cùng Thái Âm, hẳn là thuật sĩ cửu lưu»[1]. Hai câu này nói về Văn Khúc nói chung, không nói riêng cung Quan Lộc.
與廉貞共處必作公吏官。身與太陰同行,定系九流術士。
Một sách khác cũng nói Quan Lộc nên gặp Văn Xương
Sách Tử Vi Đẩu Số bản Tục Đạo Tạng dùng hệ sao khác hẳn, không có bộ 14 chính tinh. Ở cung Quan Lộc, sách viết: «Nên gặp Ấn Thụ, Văn Xương: đỗ khoa danh; nếu miếu vượng thì chủ chức quyền thăng cao»[4]. Chỉ dùng câu này để đối chiếu.
宜見印綬文昌,中科名,若廟旺,主權職高遷。
Các chính tinh khác ở Quan Lộc gặp Xương, Khúc thì sách đã kiểm không có câu rõ nghĩa. Viện xem riêng trên lá số của bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Đặt lịch xem lá sốĐọc thêm một ca chính tinh khác ở cùng cung: cung Quan Lộc có sao Cự Môn.
04Cung Tài Bạch có Văn Xương, Văn Khúc thì khác Quan Lộc ra sao?
Ở Quan Lộc sách nói chức vị; ở Tài Bạch sách nói tiền: Văn Xương giàu đủ kho lẫm, Văn Khúc nhập miếu giàu đủ, gặp sát tinh thì sa sút. Tài Bạch là cung xem tiền bạc. Bảng 4 chép lời mục «Ngũ tài bạch»[2].
| Sao và điều kiện | Lời sách |
|---|---|
| Văn Xương | Giàu đủ kho lẫm |
| Văn Xương thêm cát tinh | Tài khí vượng |
| Văn Xương đồng Cự Môn | Cũng giàu |
| Văn Xương ở đất hãm, gặp Đà La, Hỏa, Linh, Không | Hạng nho nghèo thất bại |
| Văn Khúc nhập miếu | Giàu đủ |
| Văn Khúc thêm cát tinh | Được tiền nhờ quý nhân |
| Văn Khúc thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa, Linh, Không, Kiếp | Đông đến tây đi, thành bại không toại |
文昌富足倉箱,加吉星財氣旺,巨門同富,陷地將同陀火鈴空敗寒儒輩。
文曲入廟富足,加吉星得貴人財,加羊陀火鈴空劫家忌,東來西去成敗不遂。
Hai chữ «家忌» trong câu Văn Khúc khó hiểu, có lẽ chép sai, nên Viện không dịch. Đây là lời sách cổ để đối chiếu, không phải lời hứa về tiền bạc. Muốn xem Cự Môn ở cung khác: cung Mệnh có sao Cự Môn.
05Cách an Văn Xương, Văn Khúc theo giờ sinh thế nào?
Giờ Tý đặt Văn Xương ở Tuất rồi đếm nghịch, đặt Văn Khúc ở Thìn rồi đếm thuận, đếm tới giờ sinh thì dừng. Ví dụ sách nêu: sinh giờ Sửu thì Văn Xương lùi về Dậu, Văn Khúc tiến tới Tỵ[2].
Trích Tử Vi Đẩu Số toàn thư, «Quyết an Văn Xương, Văn Khúc»
«Giờ Tý khởi Văn Xương ở Tuất, đếm nghịch tới giờ sinh là chỗ đặt sao; Văn Khúc khởi từ Thìn, đếm thuận tới giờ sinh.»
子時戌上起文昌,逆到生時是貴鄉,文曲數從辰上起,順到生時是本鄉。
Bảng tra hai sao theo 12 giờ sinh
| Giờ sinh | Văn Xương | Văn Khúc | Xương q.3 | Khúc q.3 | Xương q.2 | Khúc q.2 |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tý | Tuất | Thìn | hãm | đắc địa | đắc địa | đắc địa |
| Sửu | Dậu | Tỵ | miếu | miếu | nhập miếu | nhập miếu |
| Dần | Thân | Ngọ | đắc địa | hãm | đắc địa | hãm địa |
| Mão | Mùi | Mùi | không ghi | không ghi | lợi ích | vượng địa |
| Thìn | Ngọ | Thân | hãm | đắc địa | đắc địa | đắc địa |
| Tỵ | Tỵ | Dậu | miếu | miếu | nhập miếu | nhập miếu |
| Ngọ | Thìn | Tuất | đắc địa | hãm | đắc địa | hãm địa |
| Mùi | Mão | Hợi | không ghi | không ghi | lợi ích | vượng địa |
| Thân | Dần | Tý | hãm | đắc địa | đắc địa | đắc địa |
| Dậu | Sửu | Sửu | miếu | miếu | nhập miếu | nhập miếu |
| Tuất | Tý | Dần | đắc địa | hãm | đắc địa | hoà bình |
| Hợi | Hợi | Mão | không ghi | không ghi | lợi ích | vượng địa |
Sinh giờ Mão hoặc giờ Dậu thì hai sao đồng cung (cùng ở Mùi, hoặc cùng ở Sửu). Sinh giờ Tý hoặc giờ Ngọ thì hai sao xung chiếu nhau qua Thìn và Tuất.
Hình: hai sao đi quanh 12 cung theo giờ sinh
Tra xem Văn Xương, Văn Khúc có vào cung Quan Lộc của bạn không
- Tìm giờ sinh của bạn ở cột đầu Bảng 5, đọc ra cung có Văn Xương và cung có Văn Khúc.
- Đọc bốn cột bên phải để biết sao miếu hay hãm, theo quyển 3 và quyển 2.
- Mở lá số đã lập, xem cung Quan Lộc nằm ở chi nào. Chưa có lá số thì đọc cách lập lá số Tử Vi.
- Nếu Quan Lộc trùng cung có Xương hoặc Khúc, dò Bảng 1 và Bảng 3. Chưa chắc giờ sinh thì xem bài không biết giờ sinh có lập được lá số Tử Vi không.
Bảng 5 chỉ cho vị trí của sao. Cung Quan Lộc còn tuỳ cung Mệnh, mà Mệnh an theo tháng và giờ sinh; bài không tính phần này.
Muốn biết chắc Văn Xương, Văn Khúc có ở Quan Lộc của mình không và nên đọc thế nào: Viện lập và luận lá số cho bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Xem dịch vụ Xem mệnh lý06Hỏi – đáp
Quan Lộc có Văn Xương, Văn Khúc là học giỏi thì làm quan?
Văn Xương chủ khoa giáp, tức thi cử đỗ đạt, và sách xếp Xương, Khúc ở Quan Lộc vào hàng quan văn. Nhưng sách ràng buộc nhiều điều kiện: sao miếu hay hãm, đi cùng chính tinh nào, có Quyền, Lộc hay sát tinh. Thiếu các điều kiện ấy thì không đọc thẳng ra «làm quan».
Văn Xương, Văn Khúc gặp Địa Không, Địa Kiếp ở Quan Lộc thì sao?
Mục «Cửu quan lộc» ghi Văn Khúc ở Quan Lộc thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì bình thường. Bài «Định lưỡng quan phủ» cũng nói hung sát phá vào thì chỗ tốt hoá xấu. Sách đã kiểm không nói cách hoá giải; Viện xem riêng trên lá số.
Vì sao các sách ghi miếu hãm Văn Xương, Văn Khúc khác nhau?
Ngay trong Tử Vi Đẩu Số toàn thư đã có ba chỗ ghi lệch nhau: quyển 3 cho Dần, Ngọ, Tuất là hãm, quyển 2 cho Văn Xương ở đó đắc địa, bài ca quyển 1 lại nói lợi ở Ngọ, ngại Dậu. Viện nêu đủ, không tự chọn thay bạn.
Dịch vụ và khoá học Tử Vi của Viện
Viện xem lá số Tử Vi gồm những gì?
Dịch vụ Xem mệnh lý của Viện phân tích lá số, luận giải vận trình về sự nghiệp, tài lộc, hôn nhân; Tử Vi Đẩu Số là một trong các môn Viện dùng. Đặt lịch qua trang liên hệ, gọi hoặc nhắn Zalo 07.6264.1331.
Muốn tự học đọc cung Quan Lộc thì học khoá nào?
Khoá Tử Vi Đẩu Số (PT-ML301), cấp 4 của Khoa Mệnh Lý, dạy lập lá số từ ngày giờ sinh, phân tích 12 cung và các sao chính. Cần học xong PT-102 trước. Học trực tiếp tại 29 Cộng Hòa, TP.HCM; xem lịch khai giảng.
Nguồn tham khảo
- Tử Vi Đẩu Số toàn thư 紫微斗數全書, quyển 1: «Thái vi phú»; «Chư tinh vấn đáp luận», các mục hỏi về Văn Xương, Văn Khúc, Lưu niên Xương Khúc; «Định phú quý bần tiện thập đẳng luận». Bài tựa đầu quyển đề tên 羅洪先 (La Hồng Tiên); Wikisource xếp sách vào mục đời Thanh, không ghi bản in, không đánh số tờ. Bản Wikisource, quyển 1.
- Tử Vi Đẩu Số toàn thư, quyển 2: mục «Ngũ tài bạch», «Cửu quan lộc», các bài «Định văn quan», «Định lưỡng quan phủ», phần phú riêng của Văn Xương, Văn Khúc, quyết an Văn Xương, Văn Khúc. Bản Wikisource, quyển 2.
- Tử Vi Đẩu Số toàn thư, quyển 3: mục «Luận chư tinh đồng viên các ti sở nghi». Bản Wikisource, quyển 3.
- Tử Vi Đẩu Số 紫微斗數, bản Tục Đạo Tạng, quyển 1, mục «Thập quan lộc cung» (hệ sao khác, dùng để đối chiếu). Bản Wikisource.
Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên, hoặc tính lại bằng chính quyết an sao của sách. Bản Wikisource chép lẫn phồn thể, giản thể; chữ Hán trong bài ghi phồn thể, chấm câu theo bản số. Lời sách cổ là để đối chiếu, không phải lời hứa về công danh hay tiền bạc.
