Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Bát Quái sinh Tứ Tượng hay Tứ Tượng sinh Bát Quái? Thứ tự Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng theo Hệ Từ

6 tháng 11, 2026 11 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Bát Quái sinh Tứ Tượng hay Tứ Tượng sinh Bát Quái? Hệ Từ thượng của Kinh Dịch trả lời rõ: Tứ Tượng sinh Bát Quái. Bài có bảng tra Tứ Tượng nào sinh quẻ nào và ba bước tự vẽ tám quẻ.

Điểm chính

  • Thứ tự đúng theo Hệ Từ: Thái Cực → Lưỡng Nghi → Tứ Tượng → Bát Quái.
  • Lưỡng Nghi là hình một vạch, Tứ Tượng hai vạch, Bát Quái ba vạch; mỗi tầng thêm một vạch nên một sinh hai[3].
  • Tứ Tượng xếp theo thứ tự Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm; mỗi tượng sinh hai quẻ[5].
  • Câu này ở chương 11 Hệ Từ thượng, không phải Hệ Từ hạ.
  • Muốn học bài bản hay hỏi riêng một quẻ: Viện có khoá Kinh Dịch và nhận xem riêng.

01Bát Quái sinh Tứ Tượng hay Tứ Tượng sinh Bát Quái theo Hệ Từ?

Tứ Tượng sinh Bát Quái. Hệ Từ đặt Tứ Tượng trước, Bát Quái sau; nói «Bát Quái sinh Tứ Tượng» là đảo ngược thứ tự của kinh.

Câu gốc ngắn, chỉ năm vế. Thái Cực (太極, chỗ tột cùng, gốc ban đầu) đứng đầu. Lưỡng Nghi (兩儀, hai nghi: âm và dương) đứng thứ hai. Tứ Tượng (四象, bốn tượng) thứ ba. Bát Quái (八卦, tám quẻ) thứ tư. Sau Bát Quái mới đến chuyện cát hung.

Trích Chu Dịch, thiên Hệ Từ thượng

«Cho nên Dịch có Thái Cực, ấy sinh ra hai nghi. Hai nghi ấy sinh ra bốn tượng. Bốn tượng ấy sinh ra tám quẻ. Tám quẻ định điều cát hung. Cát hung làm nên nghiệp lớn.»

是故《易》有太極,是生兩儀。兩儀生四象。四象生八卦。八卦定吉凶。吉凶生大業。

Chu Dịch, 《繫辭上》 Hệ Từ thượng, tờ 11a[1] · xem bản gốc

Tra nhanh thứ tự Hệ Từ: mỗi tầng có mấy hình?

Bảng 1. Thứ tự Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái theo Hệ Từ
TầngTênSố vạch mỗi hìnhSố hìnhSinh ra
1Thái Cựcchưa có vạch1Lưỡng Nghi
2Lưỡng Nghi12Tứ Tượng
3Tứ Tượng24Bát Quái
4Bát Quái38định cát hung

Số hình mỗi tầng do Viện tính lại bằng code theo phép mỗi tầng thêm một vạch, khớp lời chú của Chu Hy ở phần 02.

Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, sách chú giải thế nào?

Hàn Khang Bá đời Tấn chú: «Cái có ắt bắt đầu từ cái không, nên Thái Cực sinh Lưỡng Nghi. Thái Cực là cái tên của cái không có tên»[2].

夫有必始於无,故大極生兩儀也。大極者,无稱之稱。

Bản chú sớ này viết 大極; phần Âm nghĩa ghi chữ 大 đọc là «thái», nên vẫn là Thái Cực[2].

大極之大音泰

Đọc thêm lộ trình tự học từ Âm Dương đến 64 quẻ ở bài học Kinh Dịch như thế nào.

02Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng trong Hệ Từ nghĩa là gì?

Nghĩa là hình một vạch (Lưỡng Nghi) thêm một vạch nữa thành hình hai vạch (Tứ Tượng). Hai hình một vạch sinh bốn hình hai vạch.

Chu Hy đời Tống chú câu Hệ Từ này: «Một cứ sinh hai, đó là lẽ tự nhiên… Lưỡng Nghi là lúc đầu vạch một nét để chia âm dương; Tứ Tượng là kế đó vạch hai nét để chia thái (già) và thiếu (non); Bát Quái là kế đó vạch ba nét»[3].

一每生二,自然之理也。……兩儀者,始為一畵以分隂陽;四象者,次為二畫以分太少;八卦者,次為三畫。

Một chia hai, hai chia bốn, bốn chia tám

Ở phần đồ đầu sách Bản Nghĩa, Chu Hy dẫn câu Hệ Từ rồi chép lời Thiệu Tử (Thiệu Ung): «Một chia làm hai, hai chia làm bốn, bốn chia làm tám»[4].

邵子曰:一分為二,二分為四,四分為八也。

Sách Dịch học khải mông thông thích có một đoạn chính văn nói tiếp đến sáu mươi tư quẻ: «Thái Cực đã chia thì Lưỡng Nghi lập; dương lên giao với âm, âm xuống giao với dương thì Tứ Tượng sinh… Cho nên một chia làm hai, hai chia làm bốn, bốn chia làm tám, tám chia làm mười sáu, mười sáu chia làm ba mươi hai, ba mươi hai chia làm sáu mươi tư»[5].

太極既分,兩儀立矣;陽上交於隂,隂下交於陽,而四象生矣。……是故一分為二,二分為四,四分為八,八分為十六,十六分為三十二,三十二分為六十四。

Tự vẽ tám quẻ theo thứ tự Hệ Từ trong 3 bước

  1. Vẽ Lưỡng Nghi: một vạch liền (dương) bên trái, một vạch đứt (âm) bên phải.
  2. Vẽ Tứ Tượng: đặt lên mỗi vạch một vạch liền, rồi một vạch đứt. Được bốn hình hai vạch: Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm.
  3. Vẽ Bát Quái: đặt lên mỗi hình hai vạch một vạch liền, rồi một vạch đứt. Được tám quẻ, đếm từ trái: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8.

Vạch đọc từ dưới lên. Kết quả ba bước này Viện đã chạy bằng code, khớp thứ tự sách ghi ở phần 03.

Hình cây bốn tầng: Tứ Tượng sinh Bát Quái

Cây bốn tầng: Thái Cực, Lưỡng Nghi, Tứ Tượng, Bát Quái Cây bốn tầng đọc từ trên xuống. Tầng 1 Thái Cực, chưa có vạch, 1 hình. Tầng 2 Lưỡng Nghi, một vạch, 2 hình: dương nghi vạch liền, âm nghi vạch đứt. Tầng 3 Tứ Tượng, hai vạch, 4 hình: Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm. Tầng 4 Bát Quái, ba vạch, 8 hình: Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8. Mỗi hình sinh hai hình ở tầng dưới bằng cách thêm một vạch liền rồi một vạch đứt lên trên; vạch mới thêm tô đỏ. Tứ Tượng đứng trước Bát Quái nên Tứ Tượng sinh Bát Quái. Vạch đọc từ dưới lên. Mỗi tầng thêm một vạch, một sinh hai Đọc từ trên xuống: 1, 2, 4, 8 hình Thái Cựcchưa có vạch1 hình Lưỡng Nghi1 vạch2 hìnhDương nghiÂm nghi Tứ Tượng2 vạch4 hìnhTháiDươngThiếuÂmThiếuDươngTháiÂm Bát Quái3 vạch8 hìnhCàn1Đoài2Ly3Chấn4Tốn5Khảm6Cấn7Khôn8 vạch mới thêm ở tầng ấyMỗi hình thêm lên trên một vạch liền (trái), rồi một vạch đứt (phải).Vạch đọc từ dưới lên. Tứ Tượng đứng trước nên sinh Bát Quái.
Hình 1. Cây bốn tầng cho thấy mỗi hình thêm một vạch lên trên để sinh hai hình ở tầng kế: 1, 2, 4, 8 hình. Hình minh hoạ.

03Tứ Tượng gồm những gì, sinh ra quẻ nào?

Tứ Tượng gồm Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm, xếp đúng thứ tự ấy. Mỗi tượng sinh hai quẻ.

Sách Dịch học khải mông thông thích viết: «Lưỡng Nghi chỉ gọi được là âm và dương; đến Tứ Tượng mới có phân biệt thái và thiếu, thứ tự là Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm. Thứ tự ấy định rồi, cứ lên dần mà gấp đôi, vừa vặn được thứ tự Càn 1, Đoài 2, Ly 3, Chấn 4, Tốn 5, Khảm 6, Cấn 7, Khôn 8»[5].

兩儀只可謂之隂陽,四象方有太少之别,其序以太陽、少隂、少陽、太隂為次。此序既定,遞升而倍之,適得乾一、兊二、離三、震四、巽五、坎六、艮七、坤八之序也。

Chu Hy gọi gọn: «Tứ Tượng là âm dương già và non»[3]. Thái là già, Thiếu là non.

四𧰼謂隂陽老少

Bảng tra Tứ Tượng sinh Bát Quái theo Hệ Từ

Bảng 2. Tứ Tượng nào sinh hai quẻ nào (vạch đọc từ dưới lên)
Lưỡng NghiTứ TượngHai vạch (dưới → trên)Sinh hai quẻ
Dương nghiThái Dương 太陽━━━ / ━━━1 Càn 乾, 2 Đoài 兊
Dương nghiThiếu Âm 少隂━━━ / ━ ━3 Ly 離, 4 Chấn 震
Âm nghiThiếu Dương 少陽━ ━ / ━━━5 Tốn 巽, 6 Khảm 坎
Âm nghiThái Âm 太隂━ ━ / ━ ━7 Cấn 艮, 8 Khôn 坤

Bảng do Viện tính lại bằng code theo phép mỗi tầng thêm một vạch liền rồi một vạch đứt. Kết quả khớp lời Chu Tử đáp Viên Cơ Trọng mà sách Thông Thích chép: Thái Dương thành Càn, Đoài; Thiếu Âm thành Ly, Chấn; Thái Âm thành Cấn, Khôn[5]. Cặp Tốn, Khảm của Thiếu Dương lấy theo thứ tự «Tốn 5, Khảm 6» ở đoạn trên, vì bản số cắt giữa câu.

Thuyết khác: Tứ Tượng là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa

Khổng Dĩnh Đạt đời Đường giải khác Chu Hy. Ông viết: «Thái Cực là nguyên khí khi trời đất chưa chia, hỗn hợp làm một»; còn «Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng là nói Kim, Mộc, Thủy, Hỏa nhận khí trời đất mà có»[2].

太極謂天地未分之前,元氣混而為一。……兩儀生四象者,謂金木水火稟天地而有。

Hai thuyết cùng giữ thứ tự Tứ Tượng sinh Bát Quái; chỉ khác ở chỗ Tứ Tượng là gì. Bảng 2 theo thuyết vạch quẻ của Chu Hy. Phần Âm Dương, Ngũ Hành nói chung có ở bài Âm Dương và Ngũ Hành là gì.

Muốn biết một quẻ cụ thể ứng vào việc của mình ra sao, hay dùng Tứ Tượng, Bát Quái cho nhà ở, chọn ngày: sách đã kiểm ở bài này không nói, Viện xem riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem riêng

04Câu «Thái Cực sinh Lưỡng Nghi» nằm ở đâu trong Hệ Từ?

Câu nằm ở chương 11 của Hệ Từ thượng truyện, không phải Hệ Từ hạ.

Trong bản Chu Dịch số hoá, thiên Hệ Từ thượng mở đầu bằng «Trời cao đất thấp, Càn Khôn định vậy»; thiên Hệ Từ hạ mở đầu bằng «Bát Quái thành hàng». Câu «Dịch có Thái Cực» thuộc thiên thượng[1].

Hai nhà chú giải lớn cùng ghi số chương. Khổng Dĩnh Đạt viết: «Chính nghĩa nói: đây là chương thứ mười một»[2]. Chu Hy viết: «Đây là chương 11, chuyên nói bói toán»[3].

正義曰此第十一章也

此第十一章專言卜筮

Bài tổng quan về sách có ở Kinh Dịch là gì. Nếu bạn tìm cách dùng tám quẻ trong nhà ở, xem bài Bát Quái phong thủy là gì.

Muốn đọc Hệ Từ và 64 quẻ có thầy hướng dẫn: xem khoá Kinh Dịch của Viện và lịch khai giảng.

Xem khoá Kinh Dịch

05Hỏi – đáp

Vì sao nhiều người nói nhầm «Bát Quái sinh Tứ Tượng»?

Câu Hệ Từ có bốn tên đứng liền nhau, dễ nhớ lộn thứ tự. Cách nhớ: số vạch tăng dần. Lưỡng Nghi một vạch, Tứ Tượng hai vạch, Bát Quái ba vạch. Hình ít vạch sinh hình nhiều vạch, nên Tứ Tượng phải đứng trước Bát Quái.

Thái Cực có phải là âm dương không?

Không. Theo Hệ Từ, Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi, tức đứng trước âm dương. Hàn Khang Bá chú Thái Cực là «tên của cái không có tên»; Khổng Dĩnh Đạt giải là nguyên khí khi trời đất chưa chia. Chu Hy gọi Thái Cực là cái lý của sự biến đổi âm dương.

Câu «Dịch có Tứ Tượng» ở đoạn sau có cùng nghĩa với Tứ Tượng ở đây không?

Theo Khổng Dĩnh Đạt thì có. Ông chép thuyết họ Trang (thực tượng, giả tượng, nghĩa tượng, dụng tượng) và thuyết họ Hà (bốn việc của thánh nhân) rồi bác cả hai. Ông theo thuyết Tứ Tượng là bảy, tám, chín, sáu, tức chính Tứ Tượng mà Lưỡng Nghi sinh ra[2].

Học Hệ Từ và xem riêng ở Viện

Hiểu thứ tự này rồi thì tự xem quẻ được chưa?

Chưa đủ. Thứ tự Thái Cực đến Bát Quái chỉ là cách tám quẻ được vạch ra. Đọc một quẻ cho việc cụ thể còn cần lời kinh của quẻ và hào. Muốn học bài bản, xem khoá Kinh Dịch của Viện; muốn hỏi một việc, Viện xem riêng.

Đăng ký học hoặc nhờ Viện xem riêng thế nào?

Khoá Kinh Dịch có ở trang chương trình; lịch mở lớp ở trang lịch khai giảng. Muốn nhờ xem riêng, để lại lời nhắn ở trang liên hệ, gọi hoặc nhắn Zalo số 07.6264.1331.

Nguồn tham khảo

  1. Chu Dịch 周易 (chính văn), thiên 《繫辭上》 Hệ Từ thượng, tờ 11a; thiên 《繫辭下》 Hệ Từ hạ (đối chiếu chỗ mở đầu). Bản Kanripo KR1a0001 (Hệ Từ thượng) · Hệ Từ hạ.
  2. Chu Dịch chú sớ 周易注疏, quyển 11 «繫辭上»: Hàn Khang Bá 韓伯 (đời Tấn) chú, Lục Đức Minh 陸德明 (đời Đường) âm nghĩa, Khổng Dĩnh Đạt 孔穎達 (đời Đường) sớ; tờ 43a–45b. Bản Kanripo KR1a0007.
  3. Nguyên bản Chu Dịch bản nghĩa 原本周易本義, Chu Hy 朱熹 (đời Tống) soạn, quyển 7 «周易繫辭上傳», tờ 12a–13a. Bản Kanripo KR1a0031.
  4. Nguyên bản Chu Dịch bản nghĩa 原本周易本義, phần đồ đầu sách, lời ghi dưới đồ thứ tự tám quẻ, tờ 7b. Bản Kanripo KR1a0031.
  5. Dịch học khải mông thông thích 易學啟蒙通釋, Hồ Phương Bình 胡方平 (đời Tống) thông thích, quyển thượng, mục «原卦畫第二», tờ 28b–29a và 45b–47a. Bản Kanripo KR1a0062.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên, hoặc tính lại bằng code theo đúng phép sách nêu. Bản Kanripo phần lớn không chấm câu; chấm câu chữ Hán trong bài do Viện thêm. Lời dịch là dịch sát của Viện.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →