Học Kinh Dịch như thế nào cho đúng thứ tự? Bài cho bạn bảng sáu bước từ vạch âm dương đến 64 quẻ, bảng Bát Quái tra sẵn, và câu gốc trong Hệ Từ, Thuyết Quái, Tự Quái để tự mở sách kiểm.
Điểm chính
- Thứ tự Thái Cực → Lưỡng Nghi → Tứ Tượng → Bát Quái là thứ tự sinh thành chép trong Hệ Từ thượng[1].
- Kinh Dịch có 8 quẻ đơn (2×2×2), 64 quẻ kép (8×8), 384 hào (64×6); cộng Dụng Cửu, Dụng Lục là 386 lời hào.
- 64 quẻ đi thành 32 cặp: 28 cặp lật ngược, 4 cặp đổi âm dương. Học theo cặp thì nhớ nhanh hơn.
- Viện dạy môn này ở khoá Kinh Dịch PT-204, 12 buổi × 3 giờ; muốn xem riêng một quẻ, liên hệ Viện.
01Người mới nên học Kinh Dịch theo thứ tự nào?
Đi sáu bước, từ vạch âm dương lên quẻ kép rồi mới đến lời quẻ; bốn bước đầu theo thứ tự sinh thành mà Hệ Từ thượng ghi. Hệ Từ thượng là một thiên trong phần truyện giải kinh của Chu Dịch.
Trích Chu Dịch · Hệ Từ thượng
«Cho nên Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái, Bát Quái định tốt xấu, tốt xấu sinh ra nghiệp lớn.»
是故《易》有太極,是生兩儀,兩儀生四象,四象生八卦,八卦定吉凶,吉凶生大業。
Lưỡng Nghi (兩儀) là hai nghi: âm và dương. Tứ Tượng (四象) là bốn hình hai vạch. Bát Quái (八卦) là tám quẻ ba vạch. Viện xếp lộ trình theo đúng chuỗi ấy, thêm hai bước sau cùng cho hào và lời.
| Bước | Học gì | Đọc đoạn nào | Đã nắm khi |
|---|---|---|---|
| 1. Âm Dương | Hai loại vạch: vạch liền là dương, vạch đứt là âm. | Hệ Từ thượng: «一陰一陽之謂道» (một âm một dương gọi là đạo) | Nhìn vạch gọi đúng âm hay dương. |
| 2. Tứ Tượng | Chồng hai vạch ra bốn hình: Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương, Thái Âm. | Hệ Từ thượng, đoạn Thái Cực ở trên | Vẽ đủ bốn hình hai vạch. |
| 3. Bát Quái | Chồng thêm một vạch: 2×2×2 = 8 quẻ đơn. | Thuyết Quái | Vẽ và gọi tên đủ tám quẻ, nói được tượng (Bảng 3). |
| 4. 64 quẻ kép | Hai quẻ đơn chồng lên nhau: 8×8 = 64. | Tự Quái | Kể được thứ tự theo cặp (Bảng 5). |
| 5. 384 hào | Mỗi quẻ 6 hào, gọi tên từ dưới lên. | Lời hào quẻ Càn | Gọi đúng tên Sơ Cửu, Cửu Nhị… Thượng Cửu. |
| 6. Lời quẻ, lời hào | Đọc lời Thoán (lời quẻ) và lời hào. | Hệ Từ thượng: «彖者,言乎象者也» (phần 05) | Biết một câu đang nói về tượng hay về biến. |
Bắt đầu ngay hôm nay:
- Lấy giấy, vẽ hai vạch liền, đứt; chồng thành bốn hình hai vạch theo Bảng 4.
- Chồng thêm một vạch, ra tám quẻ đơn; so với Bảng 3 xem đúng chưa.
- Gieo thử một quẻ theo bài gieo quẻ Kinh Dịch và bảng tra 64 quẻ, rồi tìm quẻ ấy trong Bảng 5.
- Đọc tên sáu hào của quẻ vừa gieo, từ dưới lên.
Muốn nắm khái quát trước khi vào bước 1, đọc bài Kinh Dịch sơ lược.
Muốn có người kèm và sửa từng bước: xem khoá Kinh Dịch PT-204 và lịch khai giảng.
Xem khoá Kinh Dịch02Kinh Dịch có bao nhiêu quẻ, bao nhiêu hào?
Kinh Dịch có 8 quẻ đơn, 64 quẻ kép và 384 hào; cộng thêm Dụng Cửu ở quẻ Càn và Dụng Lục ở quẻ Khôn thì có 386 lời hào. Các số dưới đây Viện tính lại bằng code.
| Đại lượng | Cách tính | Kết quả |
|---|---|---|
| Quẻ đơn (ba vạch) | 2 × 2 × 2 | 8 |
| Quẻ kép (sáu vạch) | 8 × 8 | 64 |
| Các tầng nhân đôi | Thái Cực → Lưỡng Nghi → Tứ Tượng → Bát Quái → … → quẻ kép | 1 → 2 → 4 → 8 → 16 → 32 → 64 |
| Hào | 64 × 6 | 384 |
| Hào dương / hào âm | 384 chia đều | 192 / 192 |
| Lời hào | 384 + Dụng Cửu + Dụng Lục | 386 |
| Số sách quẻ Càn, Khôn | 36 × 6 + 24 × 6 | 216 + 144 = 360 |
| Số sách hai thiên | 192 × 36 + 192 × 24 | 11.520 |
Vì sao sáu vạch? Thuyết Quái trả lời: «Gồm cả Tam Tài (trời, đất, người) mà nhân đôi, nên Dịch sáu vạch thì thành quẻ»[2].
兼三才而兩之,故《易》六畫而成卦。
Hai dòng cuối bảng khớp với chính Hệ Từ thượng: «Sách của Càn là hai trăm mười sáu, sách của Khôn là một trăm bốn mươi bốn, cộng ba trăm sáu mươi… Sách của hai thiên là một vạn một nghìn năm trăm hai mươi»[1]. Lấy 192 hào dương nhân 36, 192 hào âm nhân 24, cộng lại đúng 11.520.
《乾》之策二百一十有六,《坤》之策百四十有四,凡三百有六十……二篇之策萬有一千五百二十
Hai lời thêm là: quẻ Càn «Dụng Cửu: thấy bầy rồng không đầu, tốt»; quẻ Khôn «Dụng Lục: lợi ở bền chính»[4].
用九:見群龍无首,吉。 用六:利永貞。
Gọi tên hào thế nào?
Đếm từ dưới lên. Quẻ Càn sáu hào đều dương, tên lần lượt là Sơ Cửu (初九), Cửu Nhị (九二), Cửu Tam (九三), Cửu Tứ (九四), Cửu Ngũ (九五), Thượng Cửu (上九)[4]. Hào dưới cùng gọi «Sơ», hào trên cùng gọi «Thượng».
03Tám quẻ Bát Quái tra tên, hình vạch, tượng thế nào?
Tra ở Bảng 3: mỗi quẻ đơn ba vạch, đọc từ dưới lên; các cột tượng, tính chất, người trong nhà, thân thể, con vật, phương đều lấy theo Thuyết Quái.[2]
| Quẻ | Hình | Ba hào | Tượng | Tính chất | Trong nhà | Thân thể | Con vật | Phương |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Càn 乾 | ☰ | dương, dương, dương | Trời | Kiện (mạnh) | Cha | Đầu | Ngựa | Tây Bắc |
| Khôn 坤 | ☷ | âm, âm, âm | Đất | Thuận | Mẹ | Bụng | Trâu | Không nêu phương |
| Chấn 震 | ☳ | dương, âm, âm | Sấm | Động | Trưởng nam | Chân | Rồng | Đông |
| Tốn 巽 | ☴ | âm, dương, dương | Gió, cây | Nhập (vào) | Trưởng nữ | Đùi | Gà | Đông Nam |
| Khảm 坎 | ☵ | âm, dương, âm | Nước (trăng) | Hãm (sụp) | Trung nam | Tai | Lợn | Chính Bắc |
| Ly 離 | ☲ | dương, âm, dương | Lửa, mặt trời, chớp | Lệ (bám) | Trung nữ | Mắt | Trĩ | Nam |
| Cấn 艮 | ☶ | âm, âm, dương | Núi | Chỉ (dừng) | Thiếu nam | Tay | Chó | Đông Bắc |
| Đoài 兌 | ☱ | dương, dương, âm | Đầm | Duyệt (vui) | Thiếu nữ | Miệng | Dê | Ghi «chính thu» (正秋) |
Trích Chu Dịch · Thuyết Quái
«Càn là mạnh; Khôn là thuận; Chấn là động; Tốn là vào; Khảm là sụp; Ly là bám; Cấn là dừng; Đoài là vui.»
乾,健也;坤,順也;震,動也;巽,入也;坎,陷也;離,麗也;艮,止也;兌,說也。
Cột «Trong nhà» lấy từ câu Thuyết Quái «Càn là trời nên gọi là cha; Khôn là đất nên gọi là mẹ; Chấn tìm lần thứ nhất mà được con trai nên gọi là trưởng nam…»[2]. Cột phương chỉ ghi chỗ Thuyết Quái nói rõ; Khôn không nêu phương, Đoài chỉ ghi «chính thu».
Tứ Tượng chồng thêm vạch ra quẻ nào?
| Tứ Tượng | Hai vạch | Thêm vạch dương | Thêm vạch âm |
|---|---|---|---|
| Thái Dương | dương, dương | Càn ☰ | Đoài ☱ |
| Thiếu Âm | dương, âm | Ly ☲ | Chấn ☳ |
| Thiếu Dương | âm, dương | Tốn ☴ | Khảm ☵ |
| Thái Âm | âm, âm | Cấn ☶ | Khôn ☷ |
Đây là phép chồng vạch, Viện tính lại bằng code; bảng chỉ để bạn tự kiểm khi vẽ.
Chỗ hay vấp: chương 11 Thuyết Quái kể rất nhiều tượng. Chu Hy, trong Chu Dịch Bản Nghĩa, ghi ở cuối chương: «Chương này mở rộng tượng của tám quẻ, trong đó nhiều chỗ không hiểu được; tìm trong kinh cũng không hợp hết»[5]. Vì vậy người mới nên thuộc các tượng chính ở Bảng 3 trước.
此章廣八卦之象,其間多不可曉者,求之於經,亦不盡合也。
Bát Quái dùng trong phong thuỷ thế nào, xem bài Bát Quái phong thuỷ là gì.
0464 quẻ xếp theo thứ tự nào, nhớ sao cho nhanh?
Theo Tự Quái, 64 quẻ đi từ Càn, Khôn đến Ký Tế, Vị Tế: Thượng Kinh 30 quẻ (Càn → Ly), Hạ Kinh 34 quẻ (Hàm → Vị Tế). Tự Quái là thiên giải vì sao quẻ này nối quẻ kia.
Trích Chu Dịch · Tự Quái
«Có trời đất rồi sau muôn vật sinh ra. Đầy khoảng trời đất chỉ là muôn vật, nên tiếp đến quẻ Truân.» … «Vượt hơn vật thì ắt qua được, nên tiếp đến quẻ Ký Tế. Vật không thể cùng tận, nên tiếp đến quẻ Vị Tế, là hết.»
有天地,然後萬物生焉。盈天地之間者唯萬物,故受之以《屯》。……有過物者必濟,故受之以《既濟》。物不可窮也,故受之以《未濟》,終焉。
Mẹo nhớ: 64 quẻ đi thành 32 cặp liền nhau. Viện đếm lại bằng code: 28 cặp là quẻ sau lật ngược quẻ trước (đảo trên xuống dưới), 4 cặp là quẻ sau đổi hết âm dương của quẻ trước.
| Số thứ tự | Cặp quẻ | Thuộc |
|---|---|---|
| 1 – 2 | Càn – Khôn | Thượng Kinh |
| 27 – 28 | Di – Đại Quá | Thượng Kinh |
| 29 – 30 | Khảm – Ly | Thượng Kinh |
| 61 – 62 | Trung Phu – Tiểu Quá | Hạ Kinh |
- Học 32 cặp thay vì 64 quẻ lẻ.
- Gặp một quẻ, lật ngược sáu vạch: ra quẻ đi cặp với nó.
- Lật ngược mà vẫn y nguyên thì đó là một trong tám quẻ của Bảng 5; đổi hết âm dương để ra quẻ cặp.
- Đọc Tự Quái để nối các cặp thành một chuỗi có lý do.
Bảng tra đủ 64 quẻ có ở bài gieo quẻ Kinh Dịch; muốn biết lời quẻ nào tốt, xem bài 64 quẻ Kinh Dịch quẻ nào tốt nhất.
05Học Kinh Dịch có khó không, nên đọc sách nào trước?
Có khó: Chu Hy dặn «Dịch không thể đọc dễ dãi». Người mới nên lấy một bản dịch chú hiện đại làm sách chính, rồi mở cổ chú để đối chiếu.
Trích Chu Tử Ngữ Loại · quyển 67, mục «Phép đọc Dịch»
«Dịch không thể đọc dễ dãi.» … «Dịch là thứ không hình không bóng, chẳng bằng hãy đọc Thi, Thư, Lễ trước.»
易不可易讀……易是箇無形影底物,不如且先讀詩書禮
| Sách | Người soạn, đời | Dùng để |
|---|---|---|
| Chu Dịch Dịch Chú 周易譯注 | Hoàng Thọ Kỳ 黃壽祺, Trương Thiện Văn 張善文; Thượng Hải Cổ Tịch xuất bản xã, bản sửa đổi 2001 | Sách chính: nguyên văn, chú, dịch[9] |
| Chu Dịch Bản Nghĩa 周易本義 | Chu Hy, đời Tống | Đối chiếu cổ chú[5] |
| Chu Dịch Tập Giải 周易集解 | Lý Đỉnh Tộ, đời Đường | Đối chiếu cổ chú[7] |
| Chu Dịch Chú Sớ 周易註疏 | Vương Bật (Nguỵ) chú, Khổng Dĩnh Đạt sớ | Đối chiếu cổ chú[8] |
Đọc lời quẻ, lời hào thế nào?
Hệ Từ thượng cho sẵn chìa khoá đọc: «Lời Thoán nói về tượng; lời hào nói về biến; tốt xấu là nói về được mất; hối lận là nói về lỗi nhỏ; không lỗi là khéo sửa lỗi»[1].
彖者,言乎象者也;爻者,言乎變者也;吉凶者,言乎其失得也;悔吝者,言乎其小疵也;无咎者,善補過也。
Bốn chữ đầu quẻ Càn là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Văn Ngôn quẻ Càn giải: «Nguyên là đứng đầu điều thiện; Hanh là chỗ hội của cái đẹp; Lợi là sự hoà của nghĩa; Trinh là cốt cán của việc»[4].
元者,善之長也;亨者,嘉之會也;利者,義之和也;貞者,事之幹也。
Học bao lâu thì thạo? Viện chưa có nguồn đáng tin cho một con số chung nên không đưa. Khoá của Viện có thời lượng cụ thể ở phần 06.
06Học Kinh Dịch ở đâu, xem quẻ tốn bao nhiêu?
Ở Viện, Kinh Dịch là khoá PT-204, 12 buổi × 3 giờ, học trực tiếp tại 29 Cộng Hòa, TP.HCM. Viện không công bố giá xem quẻ trên trang.
| Mục | Thông tin trên trang khoá |
|---|---|
| Cấp | Cấp 2 · Ứng Dụng |
| Nội dung | 64 quẻ kép, hệ thống Hào – Tượng – Từ |
| Thời lượng | 12 buổi × 3 giờ |
| Hình thức | Học trực tiếp tại 29 Cộng Hòa, TP.HCM |
| Cần học trước | PT-ML301 |
| Khai giảng | Dự kiến 2028 |
| Học phí | Trang chưa công bố |
Đọc thêm cảm nhận của học viên trong bài Khóa Kinh Dịch K124.
Muốn thử trước khi học: Viện có công cụ «Gieo quẻ Kinh Dịch» miễn phí (cần tài khoản miễn phí để xem kết quả), gieo bằng đồng xu, theo giờ hoặc theo phút, ra quẻ chủ, quẻ hỗ, quẻ biến. Cách đọc quẻ vừa gieo có ở bài gieo quẻ Kinh Dịch.
Về giá xem quẻ: Viện không có căn cứ đáng tin để đưa một khoảng giá chung. Muốn Viện xem riêng một quẻ cho việc của bạn, liên hệ để được báo giá.
Gieo được quẻ rồi mà chưa biết đọc cho việc của mình: Viện xem riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện xem quẻ07Hỏi – đáp
Tứ Tượng là gì, sao mỗi sách giảng một kiểu?
Các nhà chú giải nói khác nhau. Ngu Phiên, được Lý Đỉnh Tộ chép trong Chu Dịch Tập Giải, cho Tứ Tượng là bốn mùa, Lưỡng Nghi là Càn Khôn[7]. Phần sớ của Khổng Dĩnh Đạt trong Chu Dịch Chú Sớ lại cho Tứ Tượng là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa[8]. Bài nêu cả hai, không hoà giải.
Thái Cực được giải nghĩa thế nào?
Ngu Phiên nói Thái Cực là Thái Nhất, chia ra trời đất nên sinh Lưỡng Nghi[7]. Sớ của Khổng Dĩnh Đạt nói Thái Cực là lúc trời đất chưa chia, nguyên khí hỗn hợp làm một[8]. Phần Âm nghĩa trong Chu Dịch Chú Sớ còn chép Mã Dung giải là sao Bắc Thần.
Gieo cỏ thi ra số 6, 7, 8, 9 thế nào?
Hệ Từ thượng ghi «mười tám lần biến thì thành quẻ», tức ba lần biến cho một hào[1]. Sau ba lần biến, số cỏ thi còn lại là 24, 28, 32 hoặc 36; chia 4 ra 6, 7, 8 hoặc 9. Viện tính lại bằng code. Muốn gieo nhanh, dùng công cụ gieo quẻ của Viện.
大衍之數五十,其用四十有九……是故四營而成《易》,十有八變而成卦
Kinh Dịch có tự học được không?
Viện không có số liệu để khẳng định ai tự học được hay không. Lời Chu Hy «Dịch không thể đọc dễ dãi» là lời nhắc nên đi chậm, có sách chú tốt và đối chiếu cổ chú. Muốn có người sửa bài, học khoá Kinh Dịch PT-204 của Viện.
Muốn Viện xem riêng một quẻ thì làm sao?
Gọi hoặc nhắn Zalo số 07.6264.1331, hoặc gửi yêu cầu ở trang liên hệ của Viện. Viện không đăng bảng giá trên trang, nên sẽ báo giá theo việc bạn cần xem.
Nguồn tham khảo
- Chu Dịch 周易, Hệ Từ thượng 繫辭上, tờ 3a, 4a, 8a, 11a. Bản Kanripo KR1a0001.
- Chu Dịch 周易, Thuyết Quái 說卦, tờ 2a, 4a, 6a–9a. Bản Kanripo KR1a0001.
- Chu Dịch 周易, Tự Quái 序卦, tờ 1a, 2a. Bản Kanripo KR1a0001.
- Chu Dịch 周易, quẻ Càn 乾 (lời hào, Dụng Cửu, Văn Ngôn) và quẻ Khôn 坤 (Dụng Lục). Bản Kanripo KR1a0001 (Càn); (Khôn).
- Chu Hy 朱熹 (Tống), Chu Dịch Bản Nghĩa 周易本義 (bản «Biệt bản» 別本周易本義), Thuyết Quái, cuối chương 11, tờ 6a. Bản Kanripo KR1a0032.
- Chu Tử Ngữ Loại 朱子語類, quyển 67 «易», mục «讀易之法», tờ 22a, bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3a0047.
- Lý Đỉnh Tộ 李鼎祚 (Đường), Chu Dịch Tập Giải 周易集解, phần Hệ Từ thượng, lời Ngu Phiên 虞翻, tờ 19b–20a. Bản Kanripo KR1a0008.
- Vương Bật 王弼 (Nguỵ) chú, Khổng Dĩnh Đạt 孔穎達 sớ, Chu Dịch Chú Sớ 周易註疏, phần Hệ Từ thượng, tờ 44a–44b. Bản Kanripo KR1a0007.
- Hoàng Thọ Kỳ 黃壽祺, Trương Thiện Văn 張善文, Chu Dịch Dịch Chú 周易譯注, Thượng Hải Cổ Tịch xuất bản xã, bản sửa đổi 2001. Thư mục CiNii.
Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên hoặc tính lại bằng code. Bản Kanripo không chấm câu theo một lối thống nhất; chấm câu chữ Hán trong bài do Viện thêm. Đọc một quẻ cho việc cụ thể còn tuỳ hoàn cảnh: nên để Viện xem riêng.
