Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Đại vận gặp Lâm Quan trong Bát Tự: tra vòng Trường Sinh 12 cung và cách đọc 10 năm

4 tháng 11, 2026 14 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Tra vòng Trường Sinh theo can ngày: biết ngay đại vận nào của bạn gặp Lâm Quan, gặp Quan Đới, và sách cổ dặn đọc mười năm ấy thế nào. Cần đọc cho đúng lá số của mình, Viện xem riêng.

Điểm chính

  • Giáp gặp Lâm Quan ở chi Dần, Ất ở Mão, Bính và Mậu ở Tỵ, Đinh và Kỷ ở Ngọ, Canh ở Thân, Tân ở Dậu, Nhâm ở Hợi, Quý ở Tý.
  • Vận tốt vẫn phải chờ năm: sách dặn đợi Thái Tuế (năm đang xét) cũng hoà hợp mới phát phúc.
  • Lâm Quan khác Quan Lộc: Lâm Quan của Giáp là chi Dần, còn Chính Quan của Giáp là can Tân.
  • Vận ấy ứng vào nghề nghiệp, tình duyên của bạn ra sao: Viện xem riêng theo lá số.

01Đại vận Lâm Quan trong vòng Trường Sinh nghĩa là gì?

Là mười năm chi của đại vận rơi vào cung Lâm Quan của can, nơi sách chép là chủ hưng thịnh. Sách Tam Mệnh Thông Hội chép: «Phàm đi vận Trường Sinh, chủ có việc gây dựng, làm mới. Tới Lâm Quan, Đế Vượng chủ hưng thịnh vui vẻ, phát phúc, thêm tiền của, có niềm vui sinh con, cốt nhục.»[1] Đây là lời sách chép lại, không phải lời Viện hứa cho lá số nào.

凡行運長生主有創建作新之事到臨官帝旺主興盛快樂發福進財生子骨肉之慶

Sách Uyên Hải Tử Bình chép một phép cùng ý: «Gặp Đế Vượng, Lâm Quan, Lộc Mã, Quý Nhân, Sinh, Dưỡng, Quan Đới, Khố thì cát; nếu rơi vào Không thì hung.»[7]

遇帝旺、临官、禄马、贵人、生、养、冠带、库者吉;如空者凶

Lâm Quan cũng là chỗ can về Lộc. Sách viết Giáp «tới Dần thì Lâm Quan, về Lộc», và kê Lộc đủ mười can, khớp cột Lâm Quan ở Bảng 1[1][2].

至寅臨官歸禄

所以甲祿寅乙祿卯庚祿申辛祿酉壬祿亥癸祿子丙祿己丁祿午戊寄己巳寄午

Vòng Trường Sinh 12 cung xếp thế nào?

Mười hai cung đi theo thứ tự: Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng, «xoay vòng không đầu mối, hết lại bắt đầu»[1]. Tên cung nói lên nghĩa của nó. Sách dẫn Tam Mệnh Đề Yếu: «Sáu là Quan Đới: muôn vật dần tươi tốt, như người đủ mũ áo. Bảy là Lâm Quan: muôn vật đã kết trái chắc, như người ra làm quan.»[1]

夫五行寄生十二官長生沐浴冠帶臨官帝旺衰病死墓絶胎飬循環無端週而復始

六曰冠帶萬物漸榮秀如人具衣冠也七曰臨官萬物既秀實如人之臨官也

Hình vòng 12 cung của can Giáp

Vòng Trường Sinh 12 cung của can Giáp trên vòng 12 chi Vòng 12 chi, Tý ở đỉnh, đi thuận chiều kim đồng hồ. Với can ngày Giáp, Trường Sinh ở Hợi, rồi Mộc Dục ở Tý, Quan Đới ở Sửu, Lâm Quan ở Dần, Đế Vượng ở Mão, Suy ở Thìn, Bệnh ở Tỵ, Tử ở Ngọ, Mộ ở Mùi, Tuyệt ở Thân, Thai ở Dậu, Dưỡng ở Tuất, rồi quay lại Trường Sinh. Quan Đới là cung liền trước Lâm Quan; Dần là Lâm Quan của Giáp, cũng là chỗ Giáp về Lộc. Can âm đi chiều ngược lại: Ất có Trường Sinh ở Ngọ, Lâm Quan ở Mão. Vòng Trường Sinh của can Giáp 12 cung đi thuận quanh 12 chi, hết vòng lại bắt đầu Chữ trong vòng tròn là chi; chữ ngoài vòng là cung HợiTrường Sinh TýMộc Dục SửuQuan Đới DầnLâm Quan MãoĐế Vượng ThìnSuy TỵBệnh NgọTử MùiMộ ThânTuyệt DậuThai TuấtDưỡng Can Giápđi thuận chiềukim đồng hồ Lâm Quan ở Dần, cũng là chỗ Giáp về Lộc Quan Đới ở Sửu, cung liền trước Lâm Quan Can âm đi chiều ngược lại: Ất có Trường Sinh ở Ngọ, Lâm Quan ở Mão (Bảng 3).
Hình 1. Vòng 12 cung Trường Sinh của can Giáp đặt trên 12 chi: đi thuận, Quan Đới ở Sửu liền trước Lâm Quan ở Dần. Hình minh hoạ.

Chặng Lâm Quan của bạn rơi vào năm nào?

Muốn biết chặng Lâm Quan của mình rơi vào năm nào và ứng vào việc gì: Viện xem riêng theo lá số. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem mệnh lý

02Can ngày của bạn gặp Lâm Quan ở chi nào?

Tìm can ngày trong Bảng 1: cột thứ hai là chi Lâm Quan, cột thứ ba là chi Quan Đới. Bảng lấy can ngày vì «phép Tử Bình lấy riêng can ngày làm chủ»[7]; sách Tam Mệnh Thông Hội cũng ghi «phép cổ xem theo năm, Tử Bình xem theo ngày»[1]. Riêng đoạn sách nói về đại vận Lâm Quan không tự ghi lấy can nào.

子平一法,专以日干为主

古法以年看子平以日看

  1. 1Lấy can ngàyCan của trụ ngày trong lá số Bát Tự.
  2. 2Lấy chi của từng đại vậnMỗi đại vận là một can chi; chỉ cần chữ chi.
  3. 3Dò bảngBảng 1 tra nhanh, Bảng 2 và Bảng 3 đủ 12 cung.
Bảng 1. Tra nhanh theo can ngày
Can ngàyChi Lâm QuanChi Quan ĐớiChính Quan
GiápDầnSửuTân
ẤtMãoThìnCanh
BínhTỵThìnQuý
ĐinhNgọMùiNhâm
MậuTỵThìnẤt
KỷNgọMùiGiáp
CanhThânMùiĐinh
TânDậuTuấtBính
NhâmHợiTuấtKỷ
QuýTýSửuMậu

Chưa có lá số thì xem cách an đại vận của Bát Tự, hoặc gửi ngày giờ sinh cho Viện.

Bảng Trường Sinh của năm can dương

Bảng 2. Chi của đại vận rơi vào cung nào: can ngày Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm
CanTýSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
GiápMộc DụcQuan ĐớiLâm QuanĐế VượngSuyBệnhTửMộTuyệtThaiDưỡngTrường Sinh
Bính, MậuThaiDưỡngTrường SinhMộc DụcQuan ĐớiLâm QuanĐế VượngSuyBệnhTửMộTuyệt
CanhTửMộTuyệtThaiDưỡngTrường SinhMộc DụcQuan ĐớiLâm QuanĐế VượngSuyBệnh
NhâmĐế VượngSuyBệnhTửMộTuyệtThaiDưỡngTrường SinhMộc DụcQuan ĐớiLâm Quan

Bảng Trường Sinh của năm can âm

Bảng 3. Chi của đại vận rơi vào cung nào: can ngày Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý
CanTýSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
ẤtBệnhSuyĐế VượngLâm QuanQuan ĐớiMộc DụcTrường SinhDưỡngThaiTuyệtMộTử
Đinh, KỷTuyệtMộTửBệnhSuyĐế VượngLâm QuanQuan ĐớiMộc DụcTrường SinhDưỡngThai
TânTrường SinhDưỡngThaiTuyệtMộTửBệnhSuyĐế VượngLâm QuanQuan ĐớiMộc Dục
QuýLâm QuanQuan ĐớiMộc DụcTrường SinhDưỡngThaiTuyệtMộTửBệnhSuyĐế Vượng

Hai bảng tính lại từ các điểm sinh, tử, Lộc sách ghi: «Giáp sinh Hợi tử Ngọ, Ất sinh Ngọ tử Hợi», «Mậu sinh Dần tử Dậu, Kỷ sinh Dậu tử Dần»[3][2]. Sách không viết thành câu «can âm đi nghịch»; chiều đi là suy ra và kiểm bằng các điểm ấy.

甲生亥死午乙生午死亥就禄於寅卯是甲乙寅卯同也丙生寅死酉丁生酉死寅就禄於巳午是丙丁巳午同也庚生巳死子辛生子死巳就禄於申酉是庚辛申酉同也壬生申死卯癸生卯死申就禄於亥子是壬癸亥子同也戊生寅死酉巳生酉死寅就禄於巳午與火同位子随母旺之義

Vòng Trường Sinh của can âm còn tranh luận gì?

Can âm và Mậu, Kỷ còn có thuyết khác ngay trong sách; bảng trên theo quyển 3 và quyển 5.

  • Can âm: quyển 2 dẫn Chu Thị nói Ất sinh ở Ngọ, Quý ở Mão, Tân ở Tý, Đinh ở Dậu rồi bác, dù quyển 5 cũng ghi Ất sinh Ngọ. Sách còn ghi thuyết người xưa chỉ có bốn Trường Sinh lớn. Câu kết «người xem mệnh nên lấy thuyết trước làm đúng» không nói rõ thuyết trước là thuyết nào; Viện không tự hoà giải[1].
  • Mậu, Kỷ: có thuyết cho Mậu sinh ở Thân; sách gọi là sai, rồi chép lý do: «thuỷ thổ sinh ở Thân là thuyết nhà âm dương; thổ sinh ở Tỵ là thuyết nhà y»[1].

再考周視作隂陽定論有云乙木生於午癸水生於卯辛金生於子丁火生於酉以為陽死隂生

後人妄作擬土歌有戊巳當絶在巳懐之句以戊生申酉沐浴戌冠帶陰陽間隔謬□甚矣

故水土生申陰陽家之説土生於巳醫家之説

Có chi vận rồi, muốn biết nên đọc thế nào cho đúng lá số của mình: gửi ngày giờ sinh cho Viện. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem riêng

03Đọc 10 năm đại vận Lâm Quan thế nào?

Đọc theo ba lớp: cả chặng nặng ở chi, chia trước sau mỗi phần năm năm, rồi xét từng năm. Sách viết «đại vận coi tốt xấu mười năm», và «đại vận nặng địa chi»[1].

夫大運司十年之休咎小運掌一嵗之灾祥

凡行運在干兼用地支之神在支則棄天干之物葢大運重地支

  1. 1Biết mốc khởi vận«Một chi mười năm, quy đổi ba ngày thành một năm.» Ví dụ của sách: 63 thời quy đổi ra 630 ngày, tức khởi vận lúc 1 tuổi lẻ 9 tháng.
  2. 2Xét chi của vậnDò Bảng 2 hoặc Bảng 3.
  3. 3Chia trước, sauMột chú giải chia hai phần năm năm: vận tốt được tiết khí sâu thì nam «đón», phát ở năm năm đầu; nữ «tiễn», phát ở năm năm sau. Chú này nêu thêm một cách hiểu khác.
  4. 4Xét từng nămĐối chiếu Thái Tuế, như mục dưới.

古人以大運則一辰十嵗折除以三日為年

一運十年更分前後各五年凡入吉運得節氣深男迎者前五年發福女送者後五年發福

Năm nào trong vận mới phát?

Sách viết vận tốt «không thể lúc nào cũng thành phúc; phải đợi Thái Tuế, hành niên cũng ở chỗ sinh vượng hoà hợp mới phát phúc». Về Lâm Quan, sách ghi riêng: «Đi vận tới Lâm Quan, Đế Vượng mà có Thái Tuế đến giữ, người làm quan chủ có việc vui được tiến cử, đổi phẩm trật.»[1]

凡大運行有益處為吉泰之運亦不能常為福須候太嵗行年更於生旺和合方可發福

凡行運至臨官帝旺上太嵗持之官員主薦章改秩之喜

Tuổi nào hợp đi đất vượng của vòng Trường Sinh?

Sách cho tuổi ba mươi, bốn mươi hợp đi đất vượng. «Tuổi mười đang thiếu niên, chỉ nên đi Thai, Dưỡng, Sinh, Mộc Dục, Quan Đới. Ba mươi, bốn mươi là lúc dương mạnh, tuổi tráng, có thể đi chỗ vượng. Năm mươi, sáu mươi thiên quý khô cạn, chỉ nên đi Suy, Bại, Tử, Tuyệt.»[1]

十嵗之時方當少年惟可行胎養生沐浴冠𢃄處三十四十當陽强齒壮之時可行旺處五十六十天癸枯竭只可行衰敗死絶

Vì sao đất Lâm Quan chưa hẳn là tốt?

Vì cùng một sách còn ba lời dặn khác, nên đừng lấy riêng câu «chủ hưng thịnh» làm kết luận.

  • Xếp nhóm khác: «Thấy sinh vượng chưa hẳn đã luận là cát.» Bảng 4 cho thấy Lâm Quan ở nhóm bốn bình, không ở bốn quý; lời này khác câu «chủ hưng thịnh», và chính sách nói đây «cũng là nói đại khái»[1].
  • Gốc lá số: «Gốc mệnh như cây, vận khí như mùa xuân.» Và: «Thịnh lại đi vận thịnh gọi là thái quá.»[1] Xem dụng thần trong Bát Tự để biết vì sao gốc lá số đứng trước.
  • Đọc bằng Thập Thần: Giáp, Ất đi vận Dần, Mão, sách gọi là Kiếp Tài, Bại Tài, ra tên xấu, dù Dần chính là Lâm Quan của Giáp. Sách tự ghi: «Đây là phép cứng, phải theo hỷ kỵ của cách cục mà suy.»[1]
Bảng 4. Bốn nhóm của vòng Trường Sinh (nhóm bình tính lại từ lời sách)
NhómCác cung
Bốn quýTrường Sinh, Đế Vượng, Mộ, Thai
Bốn kỵMộc Dục, Bệnh, Tử, Tuyệt
Bốn bìnhQuan Đới, Lâm Quan, Suy, Dưỡng

凡推造化見生旺者未必便作吉論見休囚死絶未必便作凶言如生旺太過宜乎制伏死絶不及宜乎生扶妙在識其通變古以胎生旺庫為四貴死絶病敗為四忌餘為四平亦大槩言之

且根基如木運氣如春春無木而不著木無春而不榮

盛者復行盛運是謂太過過則擊作成敗要歸於中而已

假如甲乙傳寅夘運名曰刼財敗財

此乃死發須隨格局喜忌推之干旺宜衰運

Lá số của bạn thịnh hay suy, chặng Lâm Quan nên đọc theo lời nào: phần này phải xem từng lá số. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện đọc vận

04Đại vận Quan Đới trong vòng Trường Sinh là gì?

Là mười năm chi của đại vận rơi vào cung Quan Đới, cung liền trước Lâm Quan; sách chép mọi việc vừa phải, yên ổn. Lời sách: «Tới Thai, Khố, Thành Hình, Quan Đới thì mọi việc vừa phải, yên ổn bình dị.»[1] Chi Quan Đới của can bạn xem ở Bảng 1.

到胎庫成形冠𢃄之鄉百事得中安康平易

Sách cũng dặn về năm gặp Quan Đới: «Năm tuy gặp Quan Đới, vẫn còn tai dư.» Chú của Vương thị giải thích: vừa rời đất Mộc Dục, đi thuận tới Quan Đới, «chưa thể coi ngay là phúc»[1][6].

年雖逢於冠帶尚有餘災

年運或初離沐浴暴敗之地順行至冠帯未可便以為福尚有衰敗之餘災也

05Đại vận Quan Lộc đọc thế nào?

Viện đọc cụm này là vận gặp Chính Quan, vì sách ghi Chính Quan còn có tên Lộc Thần; vận ấy cần can ngày khoẻ. Sách viết: «Một tên là Chính Quan, hai là Lộc Thần», «Chính Quan là loại Giáp thấy Tân, Ất thấy Canh»[3]. Cột Chính Quan ở Bảng 1 khớp đoạn này với Giáp, Ất; tám can còn lại tính theo cùng quy tắc.

一曰正官二曰禄神

正官者乃甲見辛乙見庚之例

Đừng nhầm với Lâm Quan. Lâm Quan của Giáp là chi Dần, còn Chính Quan của Giáp là can Tân. Phân biệt này do Viện đối chiếu hai đoạn sách, sách không viết thành một câu.

  • Khi nào vận Quan tốt: «Lại cần nhật chủ khoẻ mạnh, được Tài, Ấn cùng đỡ, trong trụ không thấy Thương, Sát, vận dẫn tới đất Quan», sách gọi là mệnh đại phú đại quý[3]. Đó là lời sách, không phải lời hứa.
  • Phải có sẵn trong lá số: «Vốn có Quan, đi vận Quan thì phát Quan.»[1]
  • Khi nào đáng ngại: «Bốn trụ có Thương Quan, vận vào đất Quan ắt phá.» «Gốc nông mỏng thì gặp Quan quý cũng không vinh.»[3]

又湏日主徤旺得財印兩扶柱中不見傷煞行運引至官鄉大富大貴命也

原有官行官運發官

四柱傷官運入官鄉必破

根元淺薄遇官貴而不榮

Vận Tài Quan đọc thế nào?

Sách chép Tài và Quan nương nhau, và phải thân vượng. «Vốn có sao Tài nên đi vận Quan, vốn có sao Quan nên đi vận Tài.» «Phải thân vượng mới gánh nổi.»[3] Sách Uyên Hải Tử Bình dặn thêm: «Chỉ sợ can ngày vốn yếu, Tài nhiều sinh Sát đuổi thân suy.»[7]

財為馬官為禄二者不可缺一實難兩全原有財星宜行官運原有官星宜行財運行財運生官行官運發財

須得身旺方能勝任若無財官多身受其制反不為吉

有财官运须荣发,财地官乡是福胎。只怕日干元自弱,财多生杀赶身衰。

Ví dụ của sách cho ngày Giáp: «Sáu ngày Giáp dùng Tân làm Chính Quan, Canh làm Thiên Quan, Mậu Kỷ làm Tài. Thích đi vận phương Tây, bốn mùa cuối, đất Kim Thổ, hướng Quan tới Tài; không thích đất Đông Nam, Mộc Hoả, Thương Quan bại Tài.»[4]

六甲日用辛為正官庚為偏官戊巳為財

喜行西方四季金土分野向官臨財之運不喜東南木火傷官敗財之地

Lá số của bạn có sẵn Quan, có sẵn Tài không, thân vượng hay nhược: không có bảng tra sẵn, phải xem cả lá số. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem riêng

06Đại vận có Quan Phù nghĩa là gì?

Là trong vận có thêm sát Quan Phù, một sát phải xét thêm, không đủ để kết luận cả vận. Trong sách, Quan Phù có hai nghĩa: tên khác của Vong Thần («Quan Phù tức là Vong Thần»), và một sát tính từ Thái Tuế[5][2]. Sách Uyên Hải Tử Bình kể Quan Phù trong các sát để xét kèm khi đọc đại vận[7].

官符即亡神也

更兼孤害、空亡、勾绞、丧门、吊客、宅墓、病、死、官符、白虎诸杀推之

Soạn giả dặn phải lấy vượng tướng hưu tù, sinh khắc chế hoá làm gốc, rồi mới cân nhắc thần sát: «Nếu chỉ luận thần sát thì là sai.»[2]

然必以主本旺相休囚五行生尅制化本之以財官印食參之以貴人祿馬然後看神煞輕重較量可也若專論神煞則誣矣

Bảng 5. Vong Thần (còn gọi Quan Phù) theo nhóm tam hợp
Nhóm chiVong Thần
Thân, Tý, ThìnHợi
Dần, Ngọ, TuấtTỵ
Tỵ, Dậu, SửuThân
Hợi, Mão, MùiDần

Vong Thần có phải Lâm Quan trong vòng Trường Sinh không?

Không hẳn: sách viết «Vong ở chỗ Lâm Quan của hành», tức tính theo hành của nhóm tam hợp, không theo can ngày như Bảng 1[2]. Vong Thần cũng không nhất định xấu: tốt khi đi cùng sinh vượng và quý sát, xấu khi đi cùng tử tuyệt và ác sát[2].

亡者失也自内失之之謂亡刼在五行絶處亡在五行臨官俱屬寅申巳亥

壯年進用即生旺與貴煞併也

即死絶與惡煞併也

Đại vận của bạn có Quan Phù thì nặng nhẹ thế nào, nên làm gì: sách đã đối chiếu không có mục riêng, bài không tự viết. Viện xem riêng theo lá số. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem riêng

07Hỏi – đáp

Chi Lâm Quan và chi Lộc có phải một không?

Với can ngày trong Bảng 1 thì trùng nhau: sách viết Giáp tới Dần là Lâm Quan, về Lộc, và kê Giáp Lộc ở Dần. Khác với Lộc Thần, tên khác của Chính Quan, là một can.

Viện có dịch vụ xem đại vận không?

Viện không có dịch vụ riêng tên xem đại vận. Phần này nằm trong dịch vụ xem mệnh lý, gồm Tứ Trụ Tử Bình và luận vận trình. Liên hệ để được báo giá.

Muốn tự đọc lá số thì học khoá nào?

Khoá Bát Tự · Tứ Trụ Tử Bình (PT-ML302), học sau PT-ML301, đào sâu cách lập Bát Tự, xác định Nhật Chủ, Thần Sát, dụng thần. Trang khoá không ghi riêng đại vận hay Trường Sinh, nên hãy hỏi Viện trước khi đăng ký.

Công cụ Tứ Trụ của Viện đã dùng được chưa?

Chưa. Trang công cụ ghi đang được hoàn thiện và chưa mở cho người dùng. Hiện bạn tra bằng các bảng trong bài, hoặc gửi ngày giờ sinh để Viện xem.

Nguồn tham khảo

  1. Tam Mệnh Thông Hội 三命通會 (Vạn Dân Anh 萬民英 soạn, đời Minh), quyển 2, các mục «論天干隂陽生死» tờ 13b–17a, «論五行旺相休囚死並寄生十二宫» tờ 55b–57a, «論年月日時» tờ 58b, «論大運» tờ 66a–75b, «論小運» tờ 76a, bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0042.
  2. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 3, các mục «論十干祿» tờ 1a–1b, «論刼煞亡神» tờ 46b–52a, «總論諸神煞» tờ 81b, «辰戌丑未四宫互換神煞» tờ 108b. Bản Kanripo KR3g0042.
  3. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 5, các mục «論古人立印食官財名義» tờ 4a–4b, «論正官» tờ 5a–10b, «論正財» tờ 42b, «論傷官» tờ 78a. Bản Kanripo KR3g0042.
  4. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 4, mục «論十干坐支兼得月時及行運吉㓙» tờ 3a. Bản Kanripo KR3g0042.
  5. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 10, mục «玉井奥訣» tờ 75b. Bản Kanripo KR3g0042.
  6. Tam Mệnh Thông Hội, quyển 11, mục «消息賦» tờ 33b, 47b. Bản Kanripo KR3g0042.
  7. Uyên Hải Tử Bình 淵海子平, các mục «寶法第一», «論大運», «萬金賦». Trang không ghi số quyển, số tờ; chép đúng như trang. Bản trên Wikisource.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên hoặc tính lại từ chính các điểm sách ghi. Bản Kanripo không chấm câu và hay viết 巳 thay 己; bài giữ nguyên chữ của bản số. Lời dịch do Viện tự chấm câu và đọc theo nghĩa. Đọc cho lá số cụ thể cần xem riêng.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →