Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế (quẻ 63) là gì? Lời Thoán, Tượng, sáu hào và so với Hỏa Thủy Vị Tế

8 tháng 11, 2026 12 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế (quẻ 63) trong Kinh Dịch nói về lúc việc đã thành mà phải lo giữ. Bài cho bảng tra sáu hào, lời Thoán, lời Tượng theo nguyên văn Chu Dịch, và chỉ rõ Ký Tế khác Hỏa Thủy Vị Tế ở đâu.

Điểm chính

  • Ký Tế là quẻ 63: Ly ở dưới, Khảm ở trên. Vị Tế là quẻ 64: Khảm ở dưới, Ly ở trên.
  • Ký Tế có cả sáu hào đúng ngôi; Vị Tế có cả sáu hào sai ngôi. Cả hai quẻ đều có ba cặp hào ứng nhau.
  • Chu Hy viết: lời chiêm của quẻ và sáu hào đều mang ý răn giữ[5].
  • Tra hào bạn gặp ở Bảng 2a, 2b. Quẻ ứng vào việc của bạn thế nào: Viện xem riêng.

01Quẻ Thủy Hỏa Ký Tế là quẻ gì?

Ký Tế (既濟) là quẻ thứ 63 của Chu Dịch, nghĩa là việc đã thành.[1]

Chu Hy giải: «Ký Tế là việc đã thành. Quẻ này nước lửa giao nhau, mỗi bên được dùng đúng chỗ; sáu hào đều ở đúng ngôi, nên gọi là Ký Tế.»[5]

既濟事之既成也為卦水火相交各得其用六爻之位各得其正故為既濟

Tạp quái tóm quẻ này bằng một chữ: «Ký Tế là yên định»[4]. Chu Hy viết lời chiêm của quẻ và sáu hào đều có ý răn giữ[5].Muốn xem quẻ đầu sách đối lại thế nào, đọc bài quẻ Thuần Kiền (quẻ 1).

02Ký Tế gồm quẻ nào trên, quẻ nào dưới?

Ký Tế gồm quái Ly (lửa) ở dưới và quái Khảm (nước) ở trên; nước ở trên lửa nên gọi đủ là Thủy Hỏa Ký Tế.[1]

既濟第六十三 ䷾離下坎上

Đếm hào từ dưới lên, quẻ đi đúng một nhịp: dương, âm, dương, âm, dương, âm. Hào lẻ (1, 3, 5) là vị dương, hào chẵn (2, 4, 6) là vị âm, nên hào nào cũng đứng đúng vị. Viện tính lại bằng code và ra đúng như lời Chu Hy «sáu hào đều ở đúng ngôi».

Bảng 1. Sáu hào quẻ Ký Tế, đếm từ dưới lên
Vị tríTên hàoÂm dươngVịĐúng vị
6Thượng lục 上六âm – –âmcó
5Cửu ngũ 九五dương —dươngcó
4Lục tứ 六四âm – –âmcó
3Cửu tam 九三dương —dươngcó
2Lục nhị 六二âm – –âmcó
1Sơ cửu 初九dương —dươngcó

Ba hào 4, 5, 6 là Khảm (âm, dương, âm); ba hào 1, 2, 3 là Ly (dương, âm, dương). Ba cặp hào 1–4, 2–5, 3–6 đều một âm một dương, nên cả ba cặp đều ứng nhau. Đại Tượng gọi hình quẻ ấy là «nước ở trên lửa»[1].

Hình so từng hào quẻ Ký Tế và Vị Tế với vị của nó

Ký Tế và Vị Tế: so từng hào với vị của nó Hai quẻ cạnh nhau, đếm từ hào 1 ở dưới lên hào 6 ở trên. Hào 1, 3, 5 là vị dương, hào 2, 4, 6 là vị âm. Ký Tế (quẻ 63, Ly dưới Khảm trên) có dương, âm, dương, âm, dương, âm từ dưới lên, nên cả sáu hào đúng vị: 6/6. Vị Tế (quẻ 64, Khảm dưới Ly trên) có âm, dương, âm, dương, âm, dương, nên cả sáu hào sai vị: 0/6. Lật ngược quẻ, hoặc đổi âm dương cả sáu hào, đều ra quẻ kia. Sáu hào đúng vị, sáu hào sai vị Đếm từ hào 1 ở dưới lên hào 6 ở trên Hào lẻ (1, 3, 5) vị dương; hào chẵn (2, 4, 6) vị âm Ký Tế · quẻ 63 Vị Tế · quẻ 64 Ly dưới, Khảm trên Khảm dưới, Ly trên 1 · vị dương đúng sai 2 · vị âm đúng sai 3 · vị dương đúng sai 4 · vị âm đúng sai 5 · vị dương đúng sai 6 · vị âm đúng sai 6/6 hào đúng vị 0/6 hào đúng vị Lật ngược quẻ, hoặc đổi âm dương cả sáu hào,đều ra quẻ kia
Hình 1. Hai quẻ Ký Tế và Vị Tế đặt cạnh nhau, đếm từ hào 1 lên hào 6: Ký Tế có cả sáu hào đúng vị, Vị Tế có cả sáu hào sai vị. Hình minh hoạ.

03Lời Thoán và Tượng của quẻ Ký Tế là gì?

Lời quẻ nói hanh thông nhưng đầu tốt cuối loạn; Thoán giải vì sao; Tượng dạy nghĩ tới hoạ mà phòng trước.

Lời quẻ (quái từ): «Ký Tế: hanh thông. Việc nhỏ thì lợi giữ chính. Đầu thì tốt, cuối thì loạn.»[1]

既濟亨。小利貞。初吉終亂。

Trích Chu Dịch, lời Thoán quẻ Ký Tế

«Ký Tế “hanh” là cái nhỏ được hanh thông. “Lợi trinh” vì cương nhu đều chính và ở đúng ngôi. “Đầu tốt” vì hào nhu được ở giữa. “Cuối” mà dừng lại thì “loạn”, vì đạo của nó đã cùng.»

彖曰:既濟亨,小者亨也。利貞,剛柔正而位當也。初吉,柔得中也。終止則亂,其道窮也。

Chu Dịch 周易, mục «既濟第六十三», tờ 3a, bản Kanripo[1] · xem bản gốc

Hai cách đọc chữ «hanh tiểu»

Bản Kanripo chấm câu «hanh. Tiểu lợi trinh», nên đọc là «hanh thông; việc nhỏ thì lợi giữ chính». Chu Hy lại đọc «hanh tiểu» liền nhau và cho là phải đảo thành «tiểu hanh», tức hanh thông nhỏ. Ông viết thêm: lời chiêm của quẻ này và sáu hào đều có ý răn giữ, vì thời thế phải như vậy[5]. Viện ghi cả hai cách, không tự chọn một.

亨小當為小亨大抵此卦及六爻占辭皆有警戒之意時當然也

Đại Tượng: nghĩ tới hoạ mà phòng trước

Đại Tượng viết: «Nước ở trên lửa là Ký Tế. Người quân tử theo đó mà nghĩ tới hoạ hoạn và phòng trước.»[1] Bản Chu Hy chép chữ 預 thay chữ 豫, nghĩa như nhau[6].

象曰:水在火上,既濟。君子以思患而豫防之。

04Sáu hào của quẻ Ký Tế nói gì?

Sáu hào đi từ lúc mới thành đến lúc cùng cực: dè dặt, chờ thời, chớ khinh động, răn giữ suốt ngày, giữ lòng thành, và cuối cùng là nguy. Cách tra: tìm hào bạn gặp trong hai bảng dưới, đọc lời hào, Tiểu Tượng, rồi lời Chu Hy giải[1][5].

Ba hào dưới quẻ Ký Tế: Sơ cửu, Lục nhị, Cửu tam

Bảng 2a. Ba hào dưới quẻ Ký Tế
HàoLời hàoTiểu TượngChu Hy giải
Sơ cửu«Kéo bánh xe lại, ướt cái đuôi, không lỗi.»«Kéo bánh xe lại thì theo nghĩa là không lỗi.»Bánh xe ở dưới, đuôi ở sau, là tượng hào đầu. Lúc đầu Ký Tế mà cẩn trọng răn giữ thì không lỗi.
Lục nhị«Người đàn bà mất tấm che xe, đừng đuổi tìm, bảy ngày sẽ được lại.»«Vì giữ đạo trung.»茀 là tấm che xe của đàn bà, ý nói mất phương tiện để đi. Đạo trung chính không bỏ mãi, qua thời thì tự được lại.
Cửu tam«Vua Cao Tông đánh nước Quỷ Phương, ba năm mới thắng; kẻ tiểu nhân chớ dùng.»«Ba năm mới thắng là đã mỏi mệt.»Lâu rồi mới thắng; răn người xem không được khinh động.

初九:曳其輪,濡其尾,无咎。象曰:曳其輪、義无咎也。
六二:婦喪其茀,勿逐,七日得。象曰:七日得、以中道也。
九三:高宗伐鬼方,三年克之,小人勿用。象曰:三年克之、憊也。

Ba câu then chốt của Chu Hy cho ba hào này: «bánh xe ở dưới, đuôi ở sau, là tượng của hào đầu»; «茀 là tấm che xe của đàn bà»; «răn người xem không được khinh động»[5].

輪在下尾在後初之象也
茀婦車之蔽
戒占者不可輕動之意

Ba hào trên: Lục tứ, Cửu ngũ, Thượng lục

Bảng 2b. Ba hào trên quẻ Ký Tế
HàoLời hàoTiểu TượngChu Hy giải
Lục tứ«Áo gấm có giẻ rách, suốt ngày răn giữ.»«Vì có điều nghi ngại.»Dẫn Trình Tử: chữ 繻 nên đọc là 濡 (thấm nước); 衣袽 là giẻ áo để nhét chỗ thuyền rò.
Cửu ngũ«Láng giềng phía đông giết bò tế, không bằng láng giềng phía tây tế lễ Thược đơn sơ mà thật được phúc.»«Láng giềng đông giết bò, không bằng láng giềng tây hợp thời; thật được phúc là điều tốt lớn đang tới.»Cửu ngũ ở ngôi tôn mà thời đã qua; ứng chuyện Văn Vương với Trụ. Lời Thoán «đầu tốt cuối loạn» cũng là ý này.
Thượng lục«Ướt đầu, nguy.»«Ướt đầu mà nguy thì sao lâu bền được?»Chỗ cùng cực của Ký Tế, ở trên đỉnh thể hiểm (Khảm); người xem không răn giữ là đường nguy.

六四:繻有衣袽,終日戒。象曰:終日戒、有所疑也。
九五:東鄰殺牛,不如西鄰之禴祭實受其福。象曰:東鄰殺牛、不如西鄰之時也。實受其福、吉大來也。
上六:濡其首,厲。象曰:濡其首、厲、何可久也?

Lời Chu Hy, có dẫn Trình Tử, cho ba hào trên[5]:

程子曰繻當作濡衣袽所以塞舟之罅漏
東陽西隂言九五居尊而時已過
既濟之極險體之上

Hào bạn gặp ứng vào việc làm ăn, gia đạo hay việc lớn sắp làm thế nào: sách đã kiểm không nói. Viện xem riêng cho bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem quẻ

05Ký Tế khác Hỏa Thủy Vị Tế thế nào?

Ký Tế là việc đã thành, sáu hào đều đúng ngôi; Vị Tế là việc chưa thành, sáu hào đều sai ngôi.

Vị Tế theo lời quẻ, Thoán và Tượng

Vị Tế là quẻ 64, Khảm ở dưới, Ly ở trên. Lời quẻ: «Vị Tế: hanh. Con cáo nhỏ gần qua được sông thì ướt đuôi, không có gì lợi.» Thoán: «tuy không đúng ngôi nhưng cương nhu ứng nhau.» Tượng: «Lửa ở trên nước là Vị Tế. Người quân tử theo đó mà thận trọng phân biệt sự vật, đặt mỗi thứ vào đúng chỗ.»[2]

未濟第六十四 ䷿坎下離上
未濟亨。小狐汔濟,濡其尾,无攸利。
雖不當位、剛柔應也。
象曰:火在水上,未濟。君子以慎辨物居方。

Chu Hy giải: «Vị Tế là lúc việc chưa thành. Nước lửa không giao, không dùng được nhau; sáu hào đều sai ngôi, nên gọi là Vị Tế.»[5]

未濟事未成之時也水火不交不相為用卦之六爻皆失其位故為未濟

Bảng so quẻ Ký Tế với Vị Tế

Bảng 3. So quẻ Ký Tế (63) với quẻ Vị Tế (64)
Tiêu chíKý Tế (quẻ 63)Vị Tế (quẻ 64)
Quái dưới, quái trênLy, KhảmKhảm, Ly
TượngNước ở trên lửaLửa ở trên nước
Số hào đúng ngôi6/60/6
Cặp hào ứng nhau3/33/3
Nghĩa (Chu Hy)Việc đã thành, nước lửa giao nhauViệc chưa thành, nước lửa không giao
Người quân tử theo TượngNghĩ tới hoạ mà phòng trướcThận trọng phân biệt sự vật, đặt đúng chỗ
Tạp quáiYên địnhLúc người nam đến chỗ cùng
Lật ngược quẻ, hoặc đổi âm dương cả sáu hàoĐều ra quẻ kia (Viện tính bằng code)

Dòng số hào, cặp ứng và dòng cuối do Viện tính lại bằng code; sách đã mở không có câu nói việc lật hay đổi hào. Tự quái giải vì sao hai quẻ đứng cuối sách: «Có cái vượt hơn vật thì ắt qua được, nên tiếp theo là Ký Tế. Vật không thể cùng tận, nên tiếp theo là Vị Tế, và kết thúc ở đó.»[3]

有過物者必濟,故受之以既濟。物不可窮也,故受之以未濟,終焉。
既濟、定也。……未濟、男之窮也。

06Gieo được quẻ Ký Tế thì tra thế nào?

Nhìn ba hào dưới và ba hào trên để chắc là Ký Tế, rồi đọc lời quẻ, Tượng và hào động trong các bảng trên.

  1. Gieo quẻ bằng công cụ gieo quẻ Kinh Dịch online của Viện: gieo đồng xu, theo giờ hoặc theo phút, ra quẻ chính và hào động.
  2. Đếm hào từ dưới lên. Dương, âm, dương ở dưới là Ly; âm, dương, âm ở trên là Khảm: quẻ Ký Tế (63). Ngược lại, Khảm dưới Ly trên là Vị Tế (64).
  3. Đọc lời quẻ và Tượng ở phần 03. Nhớ hai chữ then chốt: «đầu tốt cuối loạn» và «phòng trước».
  4. Có hào động thì tra Bảng 2a, 2b. Đọc kỹ cột Chu Hy: phần lớn là lời răn cho chính người xem.
  5. Muốn biết quẻ ứng vào việc cụ thể của bạn: sách đã kiểm không nói. Nhờ Viện xem riêng.

Đã ra quẻ Ký Tế và hào động, cần người đọc cho đúng việc của mình: Viện xem riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Đặt lịch xem riêng

Học đọc 64 quẻ ở khoá nào?

Muốn tự đọc 64 quẻ theo Hào, Tượng, Từ: học khoá Kinh Dịch PT-204, 12 buổi, mỗi buổi 3 giờ. Muốn học lối Mai Hoa: xem khoá Mai Hoa Dịch Số PT-ML304. Viện có bài cùng cách trình bày cho quẻ Phong Hỏa Gia Nhân (quẻ 37), quẻ Lôi Hỏa Phong (quẻ 55), và bài so 64 quẻ Kinh Dịch quẻ nào tốt nhất. Mới bắt đầu thì đọc Kinh Dịch là gì.

07Hỏi – đáp

Quẻ Ký Tế tốt hay xấu?

Tuỳ hào. Lời quẻ nói hanh thông nhưng «đầu tốt cuối loạn». Sơ cửu «không lỗi»; Cửu ngũ nói láng giềng tây «thật được phúc»; Thượng lục «ướt đầu, nguy». Chu Hy nhấn mạnh: quẻ và sáu hào đều có ý răn giữ, vì thời thế phải như vậy.

Vì sao Kinh Dịch kết thúc bằng Vị Tế chứ không phải Ký Tế?

Tự quái viết: có cái vượt hơn vật thì ắt qua được, nên tiếp theo là Ký Tế; nhưng vật không thể cùng tận, nên tiếp theo là Vị Tế, và kết thúc ở đó. Sách dừng ở chỗ việc chưa thành, không dừng ở chỗ đã xong.

Câu hỏi về cung quẻ và cách học

Quẻ Ký Tế thuộc cung nào, quẻ hỗ và quẻ biến là gì?

Viện chưa đối chiếu được bản số cổ thư cho phần này, nên bài không ghi. Muốn dùng quẻ Ký Tế để luận một việc cụ thể, liên hệ Viện xem riêng qua trang liên hệ, hoặc gieo thử bằng công cụ của Viện.

Học khoá Kinh Dịch PT-204 cần học gì trước?

Khoá Kinh Dịch PT-204 đào sâu 64 quẻ, Hào, Tượng, Từ, gồm 12 buổi, mỗi buổi 3 giờ. Cần học xong PT-ML301 trước. Trang khoá chưa ghi ngày khai giảng; đăng ký quan tâm ở trang khoá Kinh Dịch.

Nguồn tham khảo

  1. Chu Dịch 周易, chính văn, mục «既濟第六十三» (quẻ Ký Tế): tên quẻ tờ 1a, lời quẻ tờ 2a, Thoán tờ 3a, Đại Tượng tờ 4a, sáu hào và Tiểu Tượng tờ 5a–16a; bản tls. Bản Kanripo KR1a0001.
  2. Chu Dịch 周易, chính văn, mục «未濟第六十四» (quẻ Vị Tế): tên quẻ tờ 1a, lời quẻ tờ 2a, Thoán tờ 3a, Đại Tượng tờ 4a; bản tls. Bản Kanripo KR1a0001.
  3. Chu Dịch 周易, Tự quái truyện 序卦, tờ 2a; bản tls. Bản Kanripo KR1a0001.
  4. Chu Dịch 周易, Tạp quái truyện 雜卦, tờ 1a; bản tls. Bản Kanripo KR1a0001.
  5. Chu Hy 朱熹 (đời Tống), Nguyên bản Chu Dịch Bản Nghĩa 原本周易本義, quyển 2, quẻ Ký Tế tờ 27b–28b, quẻ Vị Tế tờ 28b, bản Văn Uyên Các Tứ khố toàn thư. Bản Kanripo KR1a0031.
  6. Chu Hy, Nguyên bản Chu Dịch Bản Nghĩa, quyển 6, Đại Tượng quẻ Ký Tế, tờ 9a, bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR1a0031.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên, cùng cột hào, «đúng vị», cặp ứng và phép lật, đổi hào do Viện tính bằng code. Chấm câu chính văn theo bản Kanripo; bản Bản Nghĩa không chấm câu nên câu Chu Hy để nguyên; lời dịch do Viện dịch sát chữ. Đọc quẻ cho một việc cụ thể còn tuỳ hoàn cảnh: nên để Viện xem riêng.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →