Quẻ Thuần Kiền là quẻ mở đầu Kinh Dịch. Bài cho bảng tra sáu hào, lời quẻ, lời Thoán, lời Tượng và bốn đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh theo nguyên văn Chu Dịch, kèm chỗ khác nhau giữa Kiền và quẻ Thuần Đoài.
Điểm chính
- Thuần Kiền là quẻ 1 của Chu Dịch: quái Kiền ở dưới, quái Kiền ở trên, sáu hào đều là hào dương[1].
- Lời quẻ chỉ có bốn chữ. Văn ngôn đọc thành bốn đức; Chu Hy đọc thành lời đoán «thông lớn, lợi ở chính bền»[2].
- Sáu hào là sáu bậc của rồng: ẩn, hiện, hăng hái, nhảy, bay, lên quá cao. Tra hào bạn gặp ở Bảng 3a, 3b.
- Thuần Đoài (quẻ 58) khác Thuần Kiền ở hào Tam và hào Thượng.
- Gieo được quẻ Kiền, muốn biết ứng vào việc của mình: Viện xem riêng.
01Quẻ Thuần Kiền là quẻ số mấy, gồm những hào nào?
Thuần Kiền là quẻ thứ nhất của Chu Dịch, gồm quái Kiền ở dưới và quái Kiền ở trên, nên cả sáu hào đều là hào dương (vạch liền).[1]
乾第一 ䷀乾下乾上
Bản Chu Dịch ghi: «Kiền, thứ nhất. Dưới Kiền, trên Kiền». Thuyết quái viết «Kiền là trời» (乾為天)[3].
Cách gọi tên sáu hào quẻ Thuần Kiền
Chu Hy giải: vạch quẻ vẽ từ dưới lên, nên hào dưới cùng gọi là Sơ; hào trên cùng gọi là Thượng. Số dương thì chín là già, bảy là non; già thì biến, non thì không, nên hào dương gọi là Cửu[2].
初九者卦下陽爻之名凡卦畫者自下而上故以下爻為初陽數九為老七為少老變而少不變故謂陽爻為九
上者最上一爻之名
| Vị trí | Tên hào | Chữ Hán | Vạch |
|---|---|---|---|
| 6 (trên cùng) | Thượng Cửu | 上九 | dương ——— |
| 5 | Cửu Ngũ | 九五 | dương ——— |
| 4 | Cửu Tứ | 九四 | dương ——— |
| 3 | Cửu Tam | 九三 | dương ——— |
| 2 | Cửu Nhị | 九二 | dương ——— |
| 1 (dưới cùng) | Sơ Cửu | 初九 | dương ——— |
Tên hào do Viện dựng bằng code từ hai quái Kiền, rồi đối chiếu với bản Kanripo của quẻ[1]. Cách tra một hào:
- Đếm vạch từ dưới lên, vạch dưới cùng là số 1.
- Tìm số ấy trong Bảng 1 để biết tên hào.
- Đọc lời hào, lời Tiểu Tượng và lời giảng của hào ấy ở Bảng 3a hoặc 3b (phần 04).
02Lời Thoán và Tượng quẻ Thuần Kiền nói gì?
Lời quẻ chỉ có bốn chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh; Thoán khen đức Nguyên là chỗ muôn vật bắt đầu; Tượng dạy người quân tử tự cường không nghỉ.
Lời quẻ, Chu Hy gọi là thoán từ của Văn Vương, viết: «Kiền: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh»[1]. Thoán truyện giảng rộng lời ấy như sau.
乾:元亨,利貞。
Trích Chu Dịch, lời Thoán quẻ Kiền
«Lớn thay đức Nguyên của Kiền! Muôn vật nhờ đó mà bắt đầu, bèn thống quát cả trời. Mây đi mưa rải, các loài vật lưu chuyển thành hình. Sáng rõ lẽ trước sau, sáu ngôi theo thời mà thành. Theo thời cưỡi sáu rồng để chế ngự trời. Đạo Kiền biến hoá, mỗi vật đều chính được tính mệnh của mình. Giữ gìn hoà hợp lớn, ấy là “Lợi Trinh”. Đứng đầu ra trên muôn vật, muôn nước đều yên.»
《彖》曰:大哉「乾元」,萬物資始,乃統天。雲行雨施,品物流形。大明終始,六位時成。時乘六龍以御天。乾道變化,各正性命。保合大和,乃「利貞」。首出庶物,萬國咸寧。
Đại Tượng quẻ Thuần Kiền: trời đi mạnh, quân tử tự cường
Đại Tượng viết: «Trời vận hành mạnh mẽ; người quân tử theo đó tự cường không nghỉ»[1].
《象》曰:天行健,君子以自強不息。
03Bốn đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh nghĩa là gì?
Theo Văn ngôn, Nguyên là đứng đầu điều thiện, Hanh là chỗ hội điều đẹp, Lợi là hoà với nghĩa, Trinh là cốt cán của việc.[1] Bảng 2 đặt cách đọc của Văn ngôn và của Chu Hy cạnh nhau.
| Chữ | Văn ngôn | Người quân tử làm theo | Chu Hy giải |
|---|---|---|---|
| Nguyên 元 | Đứng đầu các điều thiện | Thể hiện điều nhân thì đủ làm người đứng đầu | Lớn |
| Hanh 亨 | Chỗ hội tụ các điều tốt đẹp | Hội tụ điều tốt đẹp thì đủ hợp lễ | Thông |
| Lợi 利 | Sự hoà hợp của nghĩa | Làm lợi cho vật thì đủ hoà với nghĩa | Nên |
| Trinh 貞 | Cốt cán của mọi việc | Giữ chính bền vững thì đủ làm nên việc | Chính mà bền |
《文言》曰:「元」者、善之長也,「亨」者、嘉之會也,《利》者、義之和也,「貞」者、事之幹也。君子體仁足以長人,嘉會足以合禮,利物足以和義,貞固足以幹事。君子行此四德者,故曰「乾、元、亨、利、貞」。
Chu Hy đọc bốn chữ của quẻ Thuần Kiền thành lời đoán
Chu Hy viết: Nguyên là lớn, Hanh là thông, Lợi là nên, Trinh là chính mà bền. Văn Vương cho rằng đạo Kiền thông lớn mà chính đến tột. Vì thế bói được quẻ này mà sáu hào đều không động thì được thông lớn, nhưng phải lợi ở chỗ chính và bền mới giữ được trọn về sau[2].
元大也亨通也利冝也貞正而固也文王以為乾道大通而至正故於筮得此卦而六爻皆不變者言其占當得大通而必利在正固然後可以保其終也
Hai cách đọc cùng có nguồn: Văn ngôn nói bốn đức, Chu Hy nói lời đoán. Viện nêu cả hai, không tự gộp làm một.
04Sáu hào quẻ Thuần Kiền từ Tiềm long đến Kháng long đọc thế nào?
Sáu hào là sáu bậc của rồng: ẩn thì chớ dùng, hiện ở ruộng, hăng hái mà lo, nhảy ở vực, bay trên trời, lên quá cao thì có ăn năn.
Tiềm long là rồng ẩn (hào Sơ), Kháng long là rồng lên quá cao (hào Thượng). Tìm hào bạn gặp, đọc lần lượt lời hào, Tiểu Tượng, lời giảng[1][2].
Hình 1: sáu bậc của rồng, từ rồng ẩn đến rồng lên quá cao
Ba hào dưới quẻ Thuần Kiền: Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam
| Hào | Lời hào | Tiểu Tượng | Lời giảng |
|---|---|---|---|
| Sơ Cửu | «Rồng còn ẩn, chớ dùng.» | Vì dương còn ở dưới. | Văn ngôn: rồng là người có đức mà ở ẩn, không đổi mình theo đời, không cầu nên danh. |
| Cửu Nhị | «Rồng hiện ở ruộng, lợi gặp bậc đại nhân.» | Vì đức ban ra khắp. | Chu Hy: cứng mạnh, trung chính, ra khỏi chỗ ẩn, ơn thấm tới vật. |
| Cửu Tam | «Người quân tử suốt ngày hăng hái không ngừng, tối vẫn còn lo sợ như gặp nguy; không lỗi.» | Đi lại trở về với đạo. | Chu Hy: ở đất nguy, nhưng biết lo sợ như thế thì dù ở chỗ nguy cũng không lỗi. |
初九:潛龍勿用。九二:見龍在田,利見大人。九三:君子終日乾乾,夕惕若厲。无咎。
「潛龍勿用」、陽在下也。「見龍在田」、德施普也。「終日乾乾」、反復道也。
龍、德而隱者也。不易乎世,不成乎名
九二剛健中正出潜離隱澤及於物物所利見故其𧰼為見龍在田其占為利見大人
九陽爻三陽位重剛不中居卜之上乃危地也然性體剛健有能乾乾惕厲之象故其占如此
言能憂懼如是則雖處危地而无咎也
Ba hào trên quẻ Thuần Kiền: Cửu Tứ, Cửu Ngũ, Thượng Cửu
| Hào | Lời hào | Tiểu Tượng | Lời giảng của Chu Hy |
|---|---|---|---|
| Cửu Tứ | «Hoặc nhảy lên, hoặc ở dưới vực; không lỗi.» | Tiến lên thì không lỗi. | Lúc đổi thay, tiến lui chưa định; biết theo thời mà tiến lui thì không lỗi. |
| Cửu Ngũ | «Rồng bay trên trời, lợi gặp bậc đại nhân.» | Bậc đại nhân làm nên. | Cứng mạnh trung chính, ở ngôi tôn, như lấy đức thánh nhân ở ngôi thánh nhân. |
| Thượng Cửu | «Rồng lên quá cao, có ăn năn.» | Đầy thì không thể lâu. | Dương đến cực ở trên, động thì tất có ăn năn. |
九四:或躍在淵,无咎。九五:飛龍在天,利見大人。上九:亢龍,有悔。
「或躍在淵」、進「无咎」也。「飛龍在天」、「大人」造也。「亢龍有悔」、盈不可久也。
九陽四隂君上之下改革之際進退未定之時也故其𧰼如此其占能隨時進退則无咎也
剛健中正以君尊位如以聖人之德居聖人之位故其𧰼如此
陽極於上動必有悔
Dụng Cửu: khi cả sáu hào đều động
Sau sáu hào, quẻ Kiền có thêm câu Dụng Cửu: «Thấy bầy rồng không con nào đứng đầu, tốt». Tiểu Tượng giải: đức trời không thể làm đầu[1]. Chu Hy giảng: phàm bói được hào dương đều dùng số chín chứ không dùng số bảy, đó là lệ chung cho 192 hào dương của các quẻ. Vì quẻ này thuần dương và đứng đầu nên nêu ra ở đây; gặp quẻ này mà sáu hào đều động thì đoán theo câu ấy[2].
用九:見群龍无首,吉。
「用九」、天德不可為首也。
用九言几筮得陽爻者皆用九而不用七蓋諸卦百九十二陽爻之通例也以此卦純陽而居首故於此發之聖人因繫之辭使遇此卦而六爻皆變者即此占之蓋六陽皆變剛而能柔吉之道也
Đã tra ra hào, muốn biết hào ấy ứng vào việc của bạn thế nào: các sách Viện đã kiểm chưa có lời đoán riêng cho từng việc. Viện xem riêng cho bạn. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện xem quẻ05Quẻ Thuần Kiền khác quẻ Thuần Đoài ra sao?
Thuần Đoài là quẻ 58, khác Thuần Kiền ở hào Tam và hào Thượng: hai hào này của Đoài là hào âm, còn của Kiền là hào dương.[4]
Lời quẻ Đoài chỉ có «Hanh. Lợi Trinh», thiếu chữ Nguyên. Thoán viết: «Đoài là vui. Cứng ở giữa mà mềm ở ngoài. Vui mà lợi ở chính bền, nên thuận với trời mà ứng với người». Tượng viết: «Hai đầm liền nhau là Đoài; người quân tử theo đó cùng bạn bè giảng tập»[4]. Hai hào âm của Đoài là Lục Tam và Thượng Lục, nguyên văn chép ngay dưới.
兌第五十八 ䷹兌下兌上
兌:亨。利貞。《彖》曰:兌、說也。剛中而柔外。說以「利貞」,是以順乎天而應乎人。
《象》曰:麗澤,兌。君子以朋友講習。
六三:來兌,凶。上六:引兌。
Bảng so quẻ Thuần Kiền với quẻ Thuần Đoài
| Tiêu chí | Thuần Kiền (quẻ 1) | Thuần Đoài (quẻ 58) |
|---|---|---|
| Quái dưới, quái trên | Kiền, Kiền | Đoài, Đoài |
| Hào từ dưới lên | dương, dương, dương, dương, dương, dương | dương, dương, âm, dương, dương, âm |
| Hào khác nhau | Cửu Tam, Thượng Cửu | Lục Tam, Thượng Lục |
| Lời quẻ | Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh | Hanh. Lợi Trinh |
| Tính (Thuyết quái) | Mạnh | Vui |
| Tượng (Thuyết quái) | Trời, hình tròn, vua, cha, ngọc, kim loại, ngựa tốt | Đầm, con gái út, đồng cốt, miệng lưỡi, dê |
| Người quân tử theo Đại Tượng | Tự cường không nghỉ | Cùng bạn bè giảng tập |
| Số Tiên thiên (Mai Hoa) | 1 | 2 |
| Phương vị Hậu thiên, ngũ hành (Mai Hoa) | Tây Bắc, Kim | Tây, Kim |
Cột hào do Viện tính bằng code từ hai quái đơn, khớp với tên hào trong bản Kanripo[1][4]. Thuyết quái ghi Kiền là trời nên gọi là cha; Đoài là lần cầu thứ ba mà được gái nên gọi là con gái út[3].
乾、健也,坤、順也,震、動也,巽、入也,坎、陷也,離、麗也,艮、止也,兌、說也。
乾、天也,故稱乎父。
兌三索而得女,故謂之少女。
乾為天,為圜,為君,為父,為玉,為金,為寒,為冰,為大赤,為良馬,為老馬,為瘠馬,為駁馬,為木果。
兌為澤,為少女,為巫,為口舌,為毀折,為附決。
Số Mai Hoa của Kiền và Đoài
Sách Mai Hoa Dịch Số (đề tác giả Thiệu Ung) ghi số Tiên thiên: Kiền 1, Đoài 2. Về phương vị Hậu thiên, sách ghi Kiền ở Tây Bắc, Đoài ở Tây, cả hai thuộc Kim[5]. Trang Wikisource không ghi ấn bản gốc của sách.
乾一、兌二、離三、震四、巽五、坎六、艮七、坤八。此先天橫圖八卦之定數也。
乾西北屬金,坎北屬水,艮東北屬土,震東屬木,巽東南屬木,離南屬火,坤西南屬土,兌西屬金。此為後天之方位也。
Muốn dùng số Mai Hoa để tự bốc quẻ và đọc quẻ: học khoá Mai Hoa Dịch Số PT-ML304. Cần đọc quẻ cho việc của mình ngay: gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Đặt lịch xem riêng06Hỏi – đáp
Quẻ Thuần Kiền tốt hay xấu?
Tuỳ hào. Lời quẻ đủ bốn chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Cửu Tam và Cửu Tứ là «không lỗi», Thượng Cửu là «có ăn năn», Dụng Cửu là «tốt». Chu Hy nói sáu hào không động thì thông lớn, nhưng phải chính bền. Xem thêm bài 64 quẻ Kinh Dịch quẻ nào tốt nhất.
Kiền vi Thiên nghĩa là gì?
Là «Kiền là trời», lấy từ câu 乾為天 của Thuyết quái. Cùng chỗ ấy, Thuyết quái kể thêm các tượng của Kiền như vua, cha, ngọc, kim loại, ngựa tốt.
Gieo được quẻ Thuần Kiền thì việc của tôi ra sao?
Các sách Viện đã kiểm chưa có lời đoán riêng của quẻ Kiền cho từng việc, nên bài không tự viết. Muốn đọc quẻ cho đúng việc và hoàn cảnh của bạn, liên hệ Viện xem riêng hoặc gọi 07.6264.1331.
Câu hỏi về cách học 64 quẻ
Muốn tự đọc 64 quẻ thì học khoá nào ở Viện?
Khoá Kinh Dịch PT-204 học 64 quẻ kép, hào, tượng, từ; 12 buổi × 3 giờ, học trực tiếp tại 29 Cộng Hòa, cần học xong PT-ML301 trước. Khoá Mai Hoa Dịch Số PT-ML304 cần học xong PT-102. Xem ngày mở lớp ở lịch khai giảng.
Người mới nên bắt đầu học Kinh Dịch từ đâu?
Viện có bài học Kinh Dịch như thế nào vẽ lộ trình từ Âm Dương, Bát Quái đến 64 quẻ, và bài Kinh Dịch là gì cho người mới.
Nguồn tham khảo
- Chu Dịch 周易, chính văn, mục «乾第一» (quẻ Kiền): tên quẻ tờ 1a–2a, lời quẻ tờ 2a, sáu hào và Dụng Cửu tờ 3a–9a, Thoán tờ 10a, Tượng tờ 11a, Văn ngôn tờ 12a–13a; bản tls. Bản Kanripo KR1a0001.
- Chu Hy 朱熹 (đời Tống), Nguyên bản Chu Dịch Bản Nghĩa 原本周易本義, quyển 1 «周易上經», quẻ Kiền, tờ 1b–3a, bản Văn Uyên Các Tứ khố toàn thư. Bản Kanripo KR1a0031.
- Chu Dịch 周易, Thuyết quái truyện 說卦, tờ 6a, 9a, 10a, 16a–17a; bản tls. Bản Kanripo KR1a0001.
- Chu Dịch 周易, chính văn, mục «兌第五十八» (quẻ Đoài): tên quẻ tờ 1a, lời quẻ, Thoán, Tượng tờ 2a–4a, Lục Tam tờ 9a, Thượng Lục tờ 15a; bản tls. Bản Kanripo KR1a0001.
- Mai Hoa Dịch Số 梅花易數, đề Thiệu Ung 邵雍 (đời Tống), phần đầu trang, trước quyển 1; trang không ghi ấn bản gốc. Bản Wikisource.
Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên, cùng cột hào do Viện tính bằng code. Câu Chu Hy để nguyên không chấm câu, giữ đúng chữ của bản số. Lời dịch do Viện dịch sát chữ.
