Viện Nghiên Cứu Phong Thủy - gần 30 năm - 4 quyết định Nhà Nước công nhận
Chia Sẻ Kiến Thức

Tam hợp Sinh, Vượng, Mộ là gì? Cách đọc ba chi trong cục theo vòng Trường Sinh

8 tháng 11, 2026 12 phút đọc Ban Truyền Thông INAFESA

Tam hợp Sinh, Vượng, Mộ là ba chi đứng ở ba cung Trường Sinh, Đế Vượng và Mộ của cùng một hành trên vòng Trường Sinh. Bài có bảng tra sẵn bốn cục và ba bước tìm chi của bạn; cần xem tuổi vợ chồng cụ thể thì Viện xem riêng.

Điểm chính

  • Ba chi trong một cục cách nhau đúng 4 cung, nên 12 chi chia vừa đủ vào 4 cục, không chi nào lặp.
  • Chi Sinh là Dần, Thân, Tỵ, Hợi; chi Vượng là Tý, Ngọ, Mão, Dậu; chi Mộ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
  • Sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư ghi tam hợp chỉ có Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, không có Thổ cục[1].
  • Tuổi hai vợ chồng nên xét thế nào cho việc cưới hỏi: Viện xem riêng cho đôi bạn.

01Tam hợp Sinh, Vượng, Mộ là gì trong vòng Trường Sinh?

Tam hợp là lấy ba chi Sinh, Vượng, Mộ của cùng một hành để hợp thành một cục, như Dần, Ngọ, Tuất hợp thành Hỏa cục. Bộ Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư soạn đời Càn Long nhà Thanh dẫn sách Khảo Nguyên để giải nghĩa chữ «tam hợp» (三合, ba chi hợp lại)[1].

Trích Hiệp Kỷ Biện Phương Thư

«Sách Khảo Nguyên nói: tam hợp là lấy ba chi sinh, vượng, mộ để hợp thành cục. Thủy sinh ở Thân, vượng ở Tý, mộ ở Thìn, nên Thân Tý Thìn hợp Thủy cục. Mộc sinh ở Hợi, vượng ở Mão, mộ ở Mùi, nên Hợi Mão Mùi hợp Mộc cục. Hỏa sinh ở Dần, vượng ở Ngọ, mộ ở Tuất, nên Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa cục. Kim sinh ở Tỵ, vượng ở Dậu, mộ ở Sửu, nên Tỵ Dậu Sửu hợp Kim cục.»

考原曰:三合者,取生旺墓三者以合局也。水生於申,旺於子,墓於辰,故申子辰合水局也。木生於亥,旺於卯,墓於未,故亥卯未合木局也。火生於寅,旺於午,墓於戌,故寅午戌合火局也。金生於巳,旺於酉,墓於丑,故己酉丑合金局也。

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 1 «Bản nguyên», mục «Tam hợp», tờ 39b, bản Văn Uyên Các[1] · xem bản gốc

Chữ «cục» (局) ở đây là nhóm ba chi cùng thuộc một hành. Ba chữ Sinh, Vượng, Mộ ứng với ba cung Trường Sinh, Đế Vượng, Mộ của vòng Trường Sinh. Sách còn gọi Mộ là Khố (庫, kho)[3]. Bản Văn Uyên Các viết «己酉丑», chữ 己 đứng ở chỗ chữ 巳 (Tỵ); bài chép y bản số.

Mười hai cung của vòng Trường Sinh

Vòng Trường Sinh gồm 12 cung, mỗi hành khởi từ chỗ Trường Sinh của mình rồi đi thuận qua 12 chi. Sách ghi: «Mộc trường sinh ở Hợi, Hỏa trường sinh ở Dần, Kim trường sinh ở Tỵ, Thủy trường sinh ở Thân … mỗi hành đều từ Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng mà đi thuận qua mười hai chi.»[2]

考原曰:木長生於亥,火長生於寅,金長生於己,水長生於申……各由長生沐浴冠帶臨官帝旺衰病死墓絶胎養,順歴十二辰。

Bảng 1 dựng lại vòng ấy bằng code từ bốn chỗ Trường Sinh sách ghi. Ba hàng in đậm là ba cung của tam hợp; code đối chiếu thấy khớp đúng ba chi sách ghi cho từng cục.

Bảng 1. Vòng Trường Sinh của bốn hành, đi thuận 12 chi
CungThủyMộcHỏaKim
1 · Trường SinhThânHợiDầnTỵ
2 · Mộc DụcDậuTýMãoNgọ
3 · Quan ĐớiTuấtSửuThìnMùi
4 · Lâm QuanHợiDầnTỵThân
5 · Đế VượngTýMãoNgọDậu
6 · SuySửuThìnMùiTuất
7 · BệnhDầnTỵThânHợi
8 · TửMãoNgọDậuTý
9 · MộThìnMùiTuấtSửu
10 · TuyệtTỵThânHợiDần
11 · ThaiNgọDậuTýMão
12 · DưỡngMùiTuấtSửuThìn

Vòng này cũng là vòng mà bài vòng Trường Sinh trong Bát Tự dùng để đọc đại vận gặp Lâm Quan.

02Dần Ngọ Tuất sinh, vượng, mộ ở đâu trên vòng Trường Sinh?

Hỏa sinh ở Dần, vượng ở Ngọ, mộ ở Tuất, nên Dần Ngọ Tuất hợp thành Hỏa cục. Sách viết: «Hỏa sinh ở Dần, vượng ở Ngọ, mộ ở Tuất, nên Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa cục.»[1]

火生於寅,旺於午,墓於戌,故寅午戌合火局也。

Nhìn cột Hỏa ở Bảng 1: Dần ở cung 1 (Trường Sinh), Ngọ ở cung 5 (Đế Vượng), Tuất ở cung 9 (Mộ). Ba cục còn lại đọc y như vậy, gom trong Bảng 2.

Bảng 2. Ba chi Sinh, Vượng, Mộ của bốn cục tam hợp
CụcSinh (cung 1)Vượng (cung 5)Mộ (cung 9)Cách nhau
Thủy cụcThânTýThìn4 cung, 4 cung
Mộc cụcHợiMãoMùi4 cung, 4 cung
Hỏa cụcDầnNgọTuất4 cung, 4 cung
Kim cụcTỵDậuSửu4 cung, 4 cung

Hình bốn cục tam hợp trên vòng 12 chi

Bốn cục tam hợp là bốn tam giác đều trên vòng 12 chi Mười hai chi xếp thành vòng, Tý ở đỉnh, đi thuận chiều kim đồng hồ. Mỗi cục tam hợp nối ba chi cách nhau đúng 4 cung thành một tam giác đều: Thủy cục Thân (Sinh, cung 1), Tý (Vượng, cung 5), Thìn (Mộ, cung 9); Mộc cục Hợi, Mão, Mùi; Kim cục Tỵ, Dậu, Sửu; Hỏa cục Dần, Ngọ, Tuất. Bốn tam giác phủ đủ 12 chi, không chi nào lặp. Hình lần lượt làm sáng Thủy, Mộc, Kim rồi dừng ở Hỏa cục. Bốn cục tam hợp trên vòng 12 chi Mỗi cục nối ba chi Sinh, Vượng, Mộ thành một tam giác đều Tý ở đỉnh, đi thuận chiều kim đồng hồ Tý Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi Sinh · 1 Vượng · 5 Mộ · 9 Sinh · 1 Vượng · 5 Mộ · 9 Sinh · 1 Vượng · 5 Mộ · 9 Sinh · 1 Vượng · 5 Mộ · 9 Thủy cục: Thân · Tý · Thìn Mộc cục: Hợi · Mão · Mùi Kim cục: Tỵ · Dậu · Sửu Hỏa cục: Dần · Ngọ · Tuất Ba chi mỗi cục cách nhau đúng 4 cung (Sinh 1, Vượng 5, Mộ 9). Bốn tam giác phủ vừa đủ 12 chi, không chi nào lặp.
Hình 1. Mười hai chi xếp thành vòng, mỗi cục nối ba chi cách nhau 4 cung thành một tam giác đều, bốn tam giác phủ vừa đủ 12 chi. Hình minh hoạ.

Đọc thêm về bốn cục và xem tuổi vợ chồng

Muốn xem thêm bốn cục kèm cách nhớ, đọc bài tam hợp là gì và bảng bốn cục của Viện.

Bài này chỉ tra chi theo sách. Hai tuổi của đôi bạn nên xét thế nào khi cưới hỏi: Viện xem riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem tuổi vợ chồng

03Vì sao mỗi cục có chi Sinh, chi Vượng và chi Mộ?

Vì sách xem ngũ hành xoay vòng: hành này đang vượng thì hành sau đã sinh; non rồi mạnh, thịnh rồi suy, hết lại bắt đầu. Lời Khảo Nguyên chép trong Hiệp Kỷ Biện Phương Thư: «Bởi đạo trời xoay vòng, sinh sinh không dứt: Mộc đang vượng thì Hỏa đã sinh, Hỏa đang vượng thì Kim đã sinh, Kim đang vượng thì Thủy đã sinh, Thủy đang vượng thì Mộc đã sinh. Từ Trường Sinh mà đẩy thuận: non ắt sẽ mạnh, thịnh ắt sẽ suy, hết rồi lại bắt đầu, xoay vần không cùng.»[2]

葢天道循環,生生不已,故木方旺而火已生,火方旺而金已生,金方旺而水已生,水方旺而木已生。由長生而順推,穉則必壯,盛則必衰,終而復始,迭運不窮。

Soạn giả viết thêm lời «xét» (按) rằng nghĩa trường sinh của ngũ hành thì Khảo Nguyên đã nói rất rõ[2]. Đem lời ấy đặt lên Bảng 1: mỗi hành có chi khởi sinh, chi vượng và chi mộ; ba chi ấy gom lại thành cục. Code đếm thấy ba chi luôn cách nhau 4 cung, nên bốn cục chia vừa đủ 12 chi.

按五行長生之義,考原之說甚明。

04Bốn cục Hỏa, Kim, Thủy, Mộc tra trên vòng Trường Sinh thế nào?

Tìm chi (con giáp) cần tra trong Bảng 3: hàng ấy cho biết chi thuộc cục nào, là Sinh, Vượng hay Mộ, và hai chi cùng cục. Số trong bảng lấy từ code dựng vòng ở Bảng 1.

Ba bước tra chi của bạn trên vòng Trường Sinh

  1. 1Lấy chi cần traVí dụ chi năm sinh, tức con giáp của tuổi.
  2. 2Tìm hàng trong Bảng 3Đọc ra cục, vai Sinh, Vượng hay Mộ, và hai chi cùng cục.
  3. 3Muốn biết các cung khácMở cột hành ấy ở Bảng 1, đọc xem chi đứng ở cung nào.
Bảng 3. Tra 12 chi: thuộc cục nào, đứng ở cung nào
ChiCụcVai trong cụcHai chi cùng cục
TýThủyVượng (cung 5)Thân, Thìn
SửuKimMộ (cung 9)Tỵ, Dậu
DầnHỏaSinh (cung 1)Ngọ, Tuất
MãoMộcVượng (cung 5)Hợi, Mùi
ThìnThủyMộ (cung 9)Thân, Tý
TỵKimSinh (cung 1)Dậu, Sửu
NgọHỏaVượng (cung 5)Dần, Tuất
MùiMộcMộ (cung 9)Hợi, Mão
ThânThủySinh (cung 1)Tý, Thìn
DậuKimVượng (cung 5)Tỵ, Sửu
TuấtHỏaMộ (cung 9)Dần, Ngọ
HợiMộcSinh (cung 1)Mão, Mùi

Ví dụ trong sách: ngày Đại Bại và ngày Cửu Không

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư dùng chính vòng Trường Sinh của cục để đặt lại hai ngày kiêng. Đoạn này nằm trong tờ tấu kê các chỗ sách Thông Thư tính sai cần sửa; đây là định nghĩa sách đặt lại để thay cách tính của Thông Thư, không phải phép mọi sách đều theo. «Nguyệt kiến» là chi của tháng.

Sách viết: «Đại Bại là Mộc Dục của ngũ hành tam hợp nguyệt kiến. Như tháng Dần, Ngọ, Tuất hợp Hỏa cục, Hỏa trường sinh ở Dần, mộc dục ở Mão, nên tháng Dần, Ngọ, Tuất lấy ngày Mão làm ngày Đại Bại.»[3]

一大敗乃月建三合五行沐浴,如寅午戌月合火局,火長生在寅,沐浴在卯,故寅午戌月以卯日為大敗日。

Về Cửu Không: «Cửu Không là ngày xung đối với đất Khố của tam hợp nguyệt kiến. Như tháng Dần, Ngọ, Tuất hợp Hỏa cục, khố của Hỏa ở Tuất, nên lấy ngày Thìn làm Cửu Không.»[3] Code đối chiếu cột Hỏa ở Bảng 1: Mộc Dục ở Mão, Mộ ở Tuất, khớp lời sách.

一九空乃月建三合庫地對衝之日,如寅午戌月合火局,火庫在戌,故以辰日為九空。

Chọn ngày cho dạm ngõ, ăn hỏi, cưới của đôi bạn: Viện xem riêng theo tuổi hai người. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.

Nhờ Viện xem riêng

Tự tra trước can chi, ngũ hành, nạp âm, cung phi và năm tháng ngày cưới bằng công cụ xem tuổi vợ chồng của Viện.

05Thổ có cục tam hợp không?

Không. Hiệp Kỷ Biện Phương Thư ghi nhà âm dương nói tam hợp chỉ có Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, không nói tới Thổ. Sách viết: «Nay xét thì nhà âm dương nói tam hợp chỉ có Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, không nói tới Thổ.»[1]

由今考之,隂陽家言三合者,唯水火木金而已,不及於土也。

Còn Thổ trường sinh ở đâu thì sách ghi hai thuyết: «riêng nhà Hồng Phạm lấy Thổ sinh ở Thân làm thể của ngũ hành, các nhà âm dương tuyển trạch đều lấy Thổ sinh ở Dần làm dụng của ngũ hành.»[2] Tuyển trạch là phép chọn ngày.

洪範家獨以土生於申為五行之體,隂陽選擇諸家皆以土生於寅為五行之用。

Hoài Nam Tử và gốc của thuyết tam hợp

Sách Hoài Nam Tử, thiên «Thiên văn huấn», đã xếp ba chi cho từng hành, dùng chữ «mạnh» (壯) và «chết» (死) ở chỗ Khảo Nguyên dùng «vượng» và «mộ»: «Mộc sinh ở Hợi, mạnh ở Mão, chết ở Mùi, ba chi đều là Mộc. Hỏa sinh ở Dần, mạnh ở Ngọ, chết ở Tuất, ba chi đều là Hỏa. Thổ sinh ở Ngọ, mạnh ở Tuất, chết ở Dần, ba chi đều là Thổ. Kim sinh ở Tỵ, mạnh ở Dậu, chết ở Sửu, ba chi đều là Kim. Thủy sinh ở Thân, mạnh ở Tý, chết ở Thìn, ba chi đều là Thủy.»[4]

木生於亥,壯於卯,死於未,三辰皆木也。火生於寅,壯於午,死於戌,三辰皆火也。土生於午,壯於戌,死於寅,三辰皆土也。金生於巳,壯於酉,死於丑,三辰皆金也。水生於申,壯於子,死於辰,三辰皆水也。

Hiệp Kỷ Biện Phương Thư chép lại đoạn này và chỉ nói dè dặt rằng thuyết tam hợp «chưa chắc không bắt đầu từ sách này»[1]. Sách không khẳng định đây là gốc. Riêng ba chi Thổ theo Hoài Nam Tử, sách ghi là điều sách khác không có, chỉ «chép kèm ở đây để giữ một nghĩa».

所為三合之說,未必不始於是書。……今附載於此以備一義。

06Hỏi – đáp

Tam hợp và vòng Trường Sinh khác nhau thế nào?

Vòng Trường Sinh là 12 cung mà một hành đi thuận qua 12 chi, từ Trường Sinh tới Dưỡng. Tam hợp chỉ lấy ba cung trong vòng ấy là Trường Sinh, Đế Vượng và Mộ, rồi gom ba chi đứng ở đó thành một cục của hành.

Vì sao Dần, Ngọ, Tuất thuộc Hỏa cục mà không thuộc hành khác?

Vì Hỏa trường sinh ở Dần. Đi thuận thêm 4 cung tới Ngọ là Đế Vượng của Hỏa, thêm 4 cung nữa tới Tuất là Mộ của Hỏa. Ba chi ấy đều nằm trên vòng của Hỏa ở ba cung Sinh, Vượng, Mộ, nên sách gọi là Hỏa cục.

Tuổi vợ chồng cùng một cục tam hợp thì sao?

Bài này chỉ tra ba chi theo sách, Viện không phán hợp hay không cho đôi bạn từ bảng này. Muốn tự xem trước can chi, ngũ hành, nạp âm, cung phi, dùng công cụ xem tuổi vợ chồng; muốn xét kỹ cho hai tuổi cụ thể và ngày cưới, nhờ Viện xem riêng.

Can âm trên vòng Trường Sinh và khoá học

Can âm có đi nghịch trên vòng Trường Sinh không?

Sách có chép một thuyết khác: dương chết thì âm sinh, dương thuận âm nghịch, như Giáp mộc chết ở Ngọ thì Ất mộc sinh ở đó, mười hai cung xoay ngược. Nhưng sách cũng ghi: bàn mười can thì chia âm dương, bàn ngũ hành thì dương thống âm[2].

Muốn học bài bản về hợp tuổi hôn nhân thì học khoá nào?

Viện có khoá Phong Thủy Hôn Nhân (PT-205), cấp 2 Ứng Dụng, gồm 6 buổi, mỗi buổi 3 giờ, học trực tiếp tại 29 Cộng Hòa, TP.HCM. Cần học xong PT-102 trước. Lịch khai giảng do tư vấn viên báo; xem thêm trang lịch khai giảng.

Nguồn tham khảo

  1. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư 欽定協紀辨方書 (soạn đời Càn Long nhà Thanh; Tứ khố toàn thư), quyển 1 «本原» (Bản nguyên), mục «三合» (Tam hợp), tờ 39b–40b, bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0051.
  2. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 1 «本原», mục «五行生旺» (Ngũ hành sinh vượng), tờ 32b–33b, bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0051.
  3. Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, phần đầu sách, tờ tấu «計開» (Kê khai các điều cần sửa), tờ 7a, bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0051.
  4. Hoài Nam Tử 淮南子, thiên «天文訓» (Thiên văn huấn). Bản Wikisource.

Bài chỉ ghi những gì tra được trong các sách trên hoặc tính bằng chính cách tính của sách. Bản Kanripo không chấm câu; chấm câu chữ Hán trong bài do Viện thêm. Xem tuổi để cưới hỏi còn nhiều điều cần xét: nên để Viện xem cho đúng đôi bạn.

Bước tiếp theo

Chia Sẻ
Chia sẻ Facebook Zalo
INAFESA
Tác giả
Ban Truyền Thông INAFESA

Viện Nghiên Cứu & Ứng Dụng Kiến Trúc Phong Thủy Vào Đời Sống — biên soạn và cập nhật kiến thức phong thủy chính thống, dựa trên truyền thừa và thực hành ứng dụng.

Tìm hiểu về Viện →
Học bài bản cùng Viện

Hiểu phong thủy từ gốc, không chỉ từ mẹo

Viện INAFESA đào tạo phong thủy chính thống — chương trình từ Khai Duyên đến nâng cao, do giảng viên có truyền thừa trực tiếp hướng dẫn.

Xem chương trình đào tạo →