Huyệt mộ là chỗ đặt quan mà sách phong thủy âm trạch gọi là nơi long thế dừng, khí tụ. Bài tra sẵn lời sách về đào huyệt, huyệt có nước, độ nông sâu và ngày phá thổ; mảnh đất cụ thể thì Viện xem riêng.
Điểm chính
- Long đến nghìn dặm, rốt cuộc chỉ là một chiếu đất[3]: long là thế đến từ xa, huyệt là chỗ gần nơi táng.
- Táng thư xếp huyệt có mạch nước vào chỗ hung; nước chảy ngoài đất là chuyện khác.
- Độ sâu: sách cho nguyên tắc nông sâu, các đoạn Viện đã đọc không cho con số.
- Bảng ngày phá thổ tháng 11, 12/2026 chỉ là một lớp chọn, chưa phải ngày tốt để táng.
- Huyệt cho mảnh đất cụ thể, huyệt đã có nước: Viện xem riêng.
01Huyệt mộ nghĩa là gì?
Huyệt mộ là chỗ đặt quan nơi long thế dừng lại và khí tụ; còn nghĩa gốc của chữ huyệt 穴 chỉ là nhà đất, hang đất. Long ở đây là thế núi đi tới. Tra ba lớp nghĩa ở Bảng 1.
| Lớp nghĩa | Lời sách | Sách |
|---|---|---|
| Nghĩa gốc của chữ | «Huyệt: nhà đất.» Đây chưa phải nghĩa phong thủy. | Thuyết văn giải tự[6] |
| Chỗ táng | «Táng là nương vào sinh khí vậy.» Lời chú: «Người táng giỏi ắt xét chỗ khởi để xem thế, nương chỗ dừng để cắm huyệt.» | Táng thư, Nội thiên[1] |
| Huyệt trường | Chỗ nước mờ hợp lại, «chứa vừa một người nằm nghiêng». Có vòng tròn mờ thì sinh khí tụ bên trong, là chân huyệt (huyệt thật); không có thì không phải. | Táng pháp đảo trượng[2] |
穴:土室也。
葬者乘生氣也。……葬者原其起乗其止。(注)善葬者必原其起以觀勢乗其止以扦穴。
下是微茫水合合處為小明堂容人側卧便是穴場有此圓暈則生氣内聚故為真穴。無此者非也。
Khí dừng ở đâu? Táng thư dẫn lời kinh: «khí gặp gió thì tan, gặp nước chặn thì dừng»[1].
經曰氣乗風則㪚界水則止。
Sách chỉ cho nguyên tắc. Muốn biết mảnh đất của gia đình có chỗ nào là huyệt: nhờ Viện khảo sát. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện xem riêng02Huyệt mộ khác long mạch ở điểm nào?
Long là thế đến từ xa, huyệt mộ là hình gần nơi táng: long dài nghìn dặm, rốt cuộc chỉ đặt ở một chiếu đất. «Long mạch» là cách gọi thường dùng. Các đoạn Viện đã đọc viết là lai long 來龍 (long đến) và mạch 脉, nên bài không gán cụm này thành chữ của sách.
| Điểm so | Long | Huyệt | Sách |
|---|---|---|---|
| Xa, gần | Nghìn thước là thế | Trăm thước là hình; chỉ hình đã thành của đất một huyệt | Táng thư[1] |
| Đến, dừng | Thế đến | Hình dừng; táng ở chỗ dừng | Táng thư[1] |
| Ví von | Gốc rễ | Hoa nở | Nghi long kinh[2] |
| Số lượng | Đến nghìn dặm | Chỉ một huyệt; chính thì hơn, bên cạnh thì kém | Nghi long kinh[2] |
| Độ khó | Tìm long tuy dễ | Định huyệt mới khó; long thật thì huyệt cũng thật | Hám long kinh[2] |
| Quy mô | Đến nghìn dặm | Rốt cuộc một chiếu đất | Phát vi luận[3] |
千尺為勢百尺為形。(注)百尺言其近指一穴地之成形也。……勢來形止是謂全氣全氣之地當葬其止。
龍上生峯是根荄前頭結穴是花開。……千里來龍只一穴正者為優旁者劣。……龍若真兮穴亦真。……尋龍雖易裁穴難。
夫千里來龍不過一席之地。
Xác định long và huyệt cho một mảnh đất là việc của khảo sát tại chỗ, bài không tự viết. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện khảo sát03Đào huyệt mộ là gì?
Đào huyệt mộ là mở chỗ đặt quan trên huyệt đã cắm; sách gọi là khai tỉnh 開井, khai kim tỉnh 開金井. Trong đoạn đã đọc, sách không định nghĩa riêng chữ kim tỉnh 金井. Mỗi câu ở Bảng 3 gắn với một dạng huyệt riêng, không phải quy tắc chung.
| Trường hợp sách nêu | Sách dặn |
|---|---|
| Dạng táng đúng huyệt | Cắm đúng chính huyệt, mở giếng đặt quan, tiếp lấy chân khí. |
| Dạng phải mở nông | Mở kim tỉnh nông; quá sâu ắt hại. |
| Trong gò nổi có đá | Không dùng công đào đục. |
| Huyệt kết ở bùn sâu | Đào tới khi thấy đất đặc, bên trong xây huyệt bằng gạch đá. |
宜扦正穴開井放棺接取真氣。……宜淺開金井若太深必傷。……突中有石不可用工掘鑿。……穴結深泥打開實處而見實土并内用磚石結起巨壙。
Nguồn: Táng pháp đảo trượng[2]. Kích thước huyệt, trình tự và nghi thức đào theo tục Việt Nam thì bài không có nguồn đã kiểm, nên không viết. Viện có dịch vụ xem tang lễ, nghi thức, gồm an táng và cải táng theo tục truyền thống.
Ngày phá thổ đào huyệt mộ, sách ghi thế nào?
Sách Hiệp Kỷ Biện Phương Thư ghi: ngày Minh phệ nên phá thổ, an táng; ngày Minh phệ đối nên phá thổ, khải toản (mở chỗ quàn).[4] Bảng 4 dùng bản sách đã sửa, 13 + 11 ngày.
鳴吠,宜破土安葬。鳴吠對,宜破土啟攢。
| Nhóm | Can chi của ngày |
|---|---|
| Minh phệ (13 ngày) | Canh Ngọ, Nhâm Thân, Quý Dậu, Nhâm Ngọ, Giáp Thân, Ất Dậu, Giáp Ngọ, Bính Thân, Đinh Dậu, Bính Ngọ, Kỷ Dậu, Canh Thân, Tân Dậu |
| Minh phệ đối (11 ngày) | Bính Dần, Đinh Mão, Bính Tý, Canh Dần, Tân Mão, Canh Tý, Nhâm Dần, Quý Mão, Nhâm Tý, Giáp Dần, Ất Mão |
Hiệp Kỷ Biện Phương Thư cho rằng Thông Thư xếp nhầm Canh Dần, Nhâm Dần vào Minh phệ và Giáp Ngọ vào Minh phệ đối, nên đã sửa lại[5]. Bài không dùng danh sách Thông Thư.
通書誤以庚寅壬寅為鳴吠甲午為鳴吠對。
Ngày phá thổ tháng 11/2026
Tìm tháng, đọc cột Trực trước: Trực Khai thì sách ghi kỵ phá thổ, an táng.[4] Can chi, âm lịch và Trực lấy từ bộ lịch của Viện.
| Dương lịch | Âm lịch | Can chi | Trực | Nhóm |
|---|---|---|---|---|
| 06/11 | 28/9 | Giáp Thân | Khai (kỵ) | Minh phệ |
| 07/11 | 29/9 | Ất Dậu | Khai (kỵ) | Minh phệ |
| 12/11 | 4/10 | Canh Dần | Bình | Minh phệ đối |
| 13/11 | 5/10 | Tân Mão | Định | Minh phệ đối |
| 16/11 | 8/10 | Giáp Ngọ | Nguy | Minh phệ |
| 18/11 | 10/10 | Bính Thân | Thâu | Minh phệ |
| 19/11 | 11/10 | Đinh Dậu | Khai (kỵ) | Minh phệ |
| 22/11 | 14/10 | Canh Tý | Trừ | Minh phệ đối |
| 24/11 | 16/10 | Nhâm Dần | Bình | Minh phệ đối |
| 25/11 | 17/10 | Quý Mão | Định | Minh phệ đối |
| 28/11 | 20/10 | Bính Ngọ | Nguy | Minh phệ |
Ngày phá thổ tháng 12/2026
Bảng này cũng chỉ là một lớp chọn, chưa phải ngày tốt để táng. Bảng chỉ xét Minh phệ và Trực Khai; chưa xét tuổi người mất, hướng mộ, Phục nhật và các sao khác. Sách còn ghi Minh phệ gặp Phục nhật thì kỵ[5].
| Dương lịch | Âm lịch | Can chi | Trực | Nhóm |
|---|---|---|---|---|
| 01/12 | 23/10 | Kỷ Dậu | Khai (kỵ) | Minh phệ |
| 04/12 | 26/10 | Nhâm Tý | Trừ | Minh phệ đối |
| 06/12 | 28/10 | Giáp Dần | Bình | Minh phệ đối |
| 07/12 | 29/10 | Ất Mão | Bình | Minh phệ đối |
| 12/12 | 4/11 | Canh Thân | Thành | Minh phệ |
| 13/12 | 5/11 | Tân Dậu | Thâu | Minh phệ |
| 18/12 | 10/11 | Bính Dần | Mãn | Minh phệ đối |
| 19/12 | 11/11 | Đinh Mão | Bình | Minh phệ đối |
| 22/12 | 14/11 | Canh Ngọ | Phá | Minh phệ |
| 24/12 | 16/11 | Nhâm Thân | Thành | Minh phệ |
| 25/12 | 17/11 | Quý Dậu | Thâu | Minh phệ |
| 28/12 | 20/11 | Bính Tý | Kiến | Minh phệ đối |
忌伐木畋獵取魚破土安葬啓攢。……今定為鳴吠遇復日則忌。
Tra thêm theo tuổi và việc: dùng công cụ xem ngày tốt xấu của Viện, ô Dụng sự có «an táng», «động thổ», không có mục «phá thổ». Việc khởi công nhà ở thì xem bài cách chọn ngày động thổ.
Chọn ngày giờ an táng, cải táng cho người nhà: Viện tư vấn theo dịch vụ tang lễ. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện chọn ngày04Huyệt mộ có nước thì sao?
Táng thư xếp huyệt có mạch nước vào chỗ hung; lời chú nói táng vào chỉ đủ làm mục xương, hỏng quách.[1] Đoạn này ở Ngoại thiên, phần đề yếu Tứ khố xếp là tinh thô lẫn nhau. Đối chiếu đất với Bảng 7.
| Đất, nước | Sách xếp |
|---|---|
| Mịn mà chắc, ẩm mà không ướt, như cắt mỡ, như cắt ngọc, đủ năm màu | Đất cần có |
| Khô như thóc đống | Chỗ hung |
| Ướt như thịt xẻ | Chỗ hung |
| Có mạch nước | Chỗ hung |
| Cát sỏi | Chỗ hung |
夫土欲細而堅潤而不澤裁肪切玉備具五色。
夫乾如聚粟 / 濕如刲肉 / 水泉砂礫 / 皆為㐫宅。(注)……適足以腐骨敗槨。
Dòng thứ hai chép rời vì có lời chú xen giữa.
Nước trong huyệt mộ khác nước ngoài huyệt
Chỗ hay hiểu sai là thấy chữ «nước» thì cho là xấu. Cũng Táng thư viết: «Phép phong thủy, được nước là trên, tàng phong đứng sau.» Lời chú: «Nước chảy ngoài đất gọi là ngoại khí.»[1] Còn câu «Nước đổ vào trong huyệt ắt sinh tai» của Nghi long kinh đang nói huyệt kìm, không nới thành mọi huyệt[2].
風水之法得水為上藏風次之。(注)水流土外謂之外氣。
水傾穴内必生災。
Huyệt đào lên đã có nước, hay mộ cũ bị ngập: sách chỉ nói chỗ ấy hung, không nói cách xử lý, nên bài không tự viết. Viện xem riêng cho trường hợp của gia đình. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện xem riêng05Huyệt mộ sâu bao nhiêu?
Các đoạn Viện đã đọc không cho con số; sách chỉ nói nông sâu theo địa thế, theo mạch và hình huyệt. Hai sách lấy tiêu chí khác nhau. Viện giữ cả hai, không tự hoà giải.
| Sách, tiêu chí | Nên nông | Nên sâu |
|---|---|---|
| Táng thư[1]: địa thế | Chỗ bằng phẳng | Chỗ khô cạn |
| Phát vi luận[3]: mạch và hình huyệt | Mạch vào đầu mạnh, huyệt lõm, miệng tròn | Mạch vào đầu yếu, huyệt lồi, miệng nhọn |
Táng thư dẫn lời kinh: «nông sâu nương được khí thì phong thủy tự thành». Phát vi luận nói: «nên nông mà sâu thì khí đi qua phía trên; nên sâu mà nông thì khí đi qua phía dưới».
故藏於涸燥者宜深藏於坦夷者宜淺。……經曰淺深得乗風水自成。
宜淺而深則氣從上過宜深而淺則氣從下過。……脉入首强作穴凹出口圓此皆脉浮而穴陽宜淺。……來脉入首弱作穴凸出口尖此皆脉沉而穴隂宜深。
Sách bác phép định thước tấc
Hai sách đều gọi phép Cửu tinh bạch định thước tấc là sai, nên bài không đưa phép này thành cách làm. Lời chú Táng thư: «đời thường dùng phép Cửu tinh bạch để định thước tấc, là sai»[1]. Phát vi luận gọi đó là «sai lớn»[3].
淺深世俗多用九星白法以定尺寸謬也。……世俗裝卦例論九星白法以定寸尺者大謬也。
Táng thư còn có câu «huyệt tốt mà táng xấu thì như bỏ xác». Câu này ở Tạp thiên, phần đề yếu gọi là thô tạp đáng bỏ mà tạm giữ. Lời chú giải thành táng không được huyệt, hoặc được huyệt mà không biết độ nông sâu[1].
經曰穴吉葬凶與棄屍同 /(注)葬不得穴或葬已得穴而不知深淺之度。
Cần đào sâu bao nhiêu cho một huyệt cụ thể: sách đã đọc không cho số, bài không tự đưa số. Viện xem riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện xem riêng06Chọn huyệt mộ, sách cổ xét những gì?
Gom lời các sách đã đọc, có bốn việc để đối chiếu: loại núi, bốn thú quanh huyệt, chất đất và nước. Đây là đối chiếu với lời sách, chưa phải kết luận cho mảnh đất của bạn.
- 1Xem loại núiĐối chiếu năm loại ở Bảng 9, đọc cả cột ngoại lệ.
- 2Đứng ở chỗ lập huyệt, xem bốn thúSau là Huyền Vũ cúi đầu, trước là Chu Tước bay múa, trái là Thanh Long uốn lượn, phải là Bạch Hổ thuần phục.
- 3Xem chất đấtĐối chiếu Bảng 7.
- 4Xem nướcPhân biệt mạch nước trong huyệt và nước chảy ngoài đất, như phần 04.
Lời chú Táng thư nói bốn thú trước sau trái phải «đều tính từ chỗ lập huyệt»; đoạn này ở Ngoại thiên[1].
夫葬以左為青龍右為白虎前為朱雀後為𤣥武。(注)此言前後左右之四獸皆自立穴處言之。……𤣥武垂頭,朱雀翔舞,青龍蜿蜒,白虎馴頫。
Hình bốn thú quanh huyệt mộ
Năm loại núi Táng thư nói không táng
Táng thư, Nội thiên, nêu năm loại: trọc, đứt, đá, đi qua, đơn độc; lời chú nêu ngoại lệ.[1]
| Loại núi | Lý do sách nêu | Ngoại lệ trong lời chú |
|---|---|---|
| Núi trọc | Khí nhờ sinh hoà | Có loại đá vân ấm, mở giếng gặp huyệt đất năm màu: không vì trọc mà bỏ |
| Núi đứt | Khí theo hình mà đến | Lời chú phân biệt: núi bị đục đứt thì khí cách tuyệt; chỗ tự nhiên đứt gãy thì không giống vậy |
| Núi đá | Khí theo đất mà đi | Núi đá vẫn có huyệt đất: chưa thể vì đá mà ngại |
| Núi đi qua | Khí theo thế mà dừng | Lời chú nêu loại long ngang có chỗ rơi xuống ở lưng chính long, hay cắt ải làm huyệt thì không giống núi đi qua |
| Núi đơn độc | Khí nhờ long hội | Có nước lớn chầu: không vì trơ trọi mà bỏ |
山之不可葬者五。氣以生和而童山不可葬也。氣因形來而斷山不可葬也。氣因土行而石山不可葬也。氣以勢止而過山不可葬也。氣以龍㑹而獨山不可葬也。
(注)是又不可以童而棄之也。……未可以石為嫌也。……不可以孤露而棄之也。
Muốn biết chỗ đất của gia đình rơi vào trường hợp nào: Viện khảo sát tại chỗ. Hướng huyệt theo tuổi người mất thì các đoạn đã đọc không nói, nên trao đổi trực tiếp. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện khảo sát07Hỏi – đáp
Có nên định độ sâu huyệt mộ theo phép Cửu tinh bạch không?
Táng thư (lời chú) và Phát vi luận đều bác phép này: một sách gọi là sai, một sách gọi là sai lớn. Bài không đưa phép ấy thành cách làm. Sách chỉ cho nguyên tắc nông sâu theo địa thế, theo mạch và hình huyệt.
Ngày Minh phệ có phải ngày tốt để an táng không?
Chưa hẳn. Minh phệ chỉ là một lớp: sách ghi nên phá thổ, an táng, nhưng cũng ghi ngày Trực Khai kỵ, Minh phệ gặp Phục nhật thì kỵ. Bảng của bài chưa xét tuổi người mất, hướng mộ và các sao khác.
Táng thư có phải do Quách Phác viết không?
Bài không khẳng định. Đề yếu Tứ khố ghi bản cũ đề Quách Phác đời Tấn, nhưng nói sách xuất hiện từ đời Tống. Ba sách về long và táng pháp cũng chỉ ghi bản cũ đề Dương Quân Tùng, người không thấy trong sử truyện.
Dịch vụ và khoá học liên quan đến huyệt mộ
Viện có xem huyệt âm trạch cho mảnh đất cụ thể không?
Viện có dịch vụ Xem phong thủy nhà đất, nhóm Dương trạch · Âm trạch, khảo sát cả đất; trang dịch vụ không nêu riêng việc chọn huyệt mộ, nên bạn hỏi trước qua Zalo 0762641331 hoặc tổng đài 07.6264.1331 để biết Viện nhận việc của gia đình thế nào.
Muốn tìm hiểu mộ phần thì học khoá nào?
Khoá Huyền Không Đại Quái ứng dụng cho cả nhà ở và mộ phần, tiên quyết Huyền Không Phi Tinh. Khoá Huyền Không Đại Quái Xem Ngày học ngày hợp hướng mộ và tuổi con cháu, tiên quyết Huyền Không Đại Quái. Trang chương trình không có khoá riêng về chọn huyệt. Lịch khai giảng: liên hệ tư vấn viên.
Nguồn tham khảo
- Táng thư 葬書, một quyển, ba thiên, bản Văn Uyên Các. Đề yếu Tứ khố ghi bản cũ đề Quách Phác đời Tấn và nói sách xuất hiện từ đời Tống; người chú không khảo được. Nội thiên: tờ 1a, 5b–6b, 7b–8a, 9b–10b, 19a–21a. Ngoại thiên: tờ 32a–34b. Tạp thiên: tờ 50a. Bản Kanripo KR3g0020.
- Hám long kinh 撼龍經 (tờ 34a), Nghi long kinh 疑龍經 (tờ 49a, 50b, 51a), Táng pháp đảo trượng 葬法倒杖 (tờ 66a, 79b–80b), bản Văn Uyên Các. Đề yếu Tứ khố ghi bản cũ đề Dương Quân Tùng đời Đường và nói ông không thấy trong sử truyện. Bản Kanripo KR3g0021.
- Phát vi luận 發微論, các thiên «Sinh tử» (tờ 6a), «Thiển thâm» (tờ 9a–9b), bản Văn Uyên Các. Tứ khố đề Sái Nguyên Định đời Tống nhưng nói sách có thể do Sái Phát viết. Bản Kanripo KR3g0027.
- Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư 欽定協紀辨方書, quyển 10 «Nghi kỵ» 宜忌, tờ 21b, 26a, bản Văn Uyên Các. Bản Kanripo KR3g0051.
- Khâm định Hiệp Kỷ Biện Phương Thư, quyển 5 «Nghĩa lệ» 義例, tờ 62a, 69a: danh sách Minh phệ đã sửa và lời sửa Thông Thư. Bản Kanripo KR3g0051.
- Thuyết văn giải tự 説文解字, bộ Huyệt, Hứa Thận 許慎 (theo trang). Bản Wikisource.
Bài chép lời các sách trên, không kết luận rằng điều sách nói sẽ ứng nghiệm. Danh sách ngày tính lại theo sách; can chi, âm lịch, Trực lấy từ bộ lịch của Viện. Bản Kanripo không chấm câu; chấm câu chữ Hán trong bài do Viện thêm. Việc cho từng mảnh đất cần khảo sát tại chỗ.
