Âm trạch là mộ phần, dương trạch là nhà người sống. Tra ngay bảng khác biệt, lời sách cổ về mộ phần và những cách gọi hay gây nhầm. Cần xem cho mộ hay nhà cụ thể thì Viện khảo sát riêng.
Điểm chính
- Nghe một cách gọi lạ về mộ, tra ngay ở Bảng 1.
- Âm trạch và dương trạch khác nhau ở đâu, xem Bảng 2.
- Sách cổ không đồng lòng: Táng Thư, Trình tử, Chu Hy coi trọng đất mộ, Tư Mã Quang bác thuyết đất mộ định họa phúc.
- Mộ hay nhà của gia đình bạn nên xử lý thế nào: sách đã kiểm không trả lời thay được, Viện xem riêng.
01Âm trạch nghĩa là gì, có phải mộ phần không?
Có: âm trạch là thuật ngữ phong thủy chỉ nơi chôn người đã mất, gồm mộ tổ, tháp tổ và cả ngăn lưu cốt hiện đại.[1] Nghe cách gọi nào, tìm trong bảng dưới để biết nghĩa đã tra được và chỗ còn thiếu nguồn.
| Cách gọi | Nghĩa đã tra được | Mức nguồn |
|---|---|---|
| Âm trạch | Nơi chôn người đã mất | Wikipedia tiếng Trung[1] |
| Dương trạch | Nhà của người sống | Sách đời Thanh[2] |
| Dương cơ | Thế đất dựng nhà người sống | Dương Trạch Chỉ Nam[8] |
| Thọ tàng | Mộ làm sẵn từ khi còn sống | Hậu Hán Thư[9] |
| Âm trạch sống | Cách gọi tiếng Việt, nghĩa gần với thọ tàng | Các bản đã mở không thấy cụm chữ Hán tương ứng |
| Âm trạch mượn thọ | Chưa tra được | Chưa thấy nguồn cổ thư trong phạm vi đã tra |
Gia đình đang được khuyên làm một việc gọi bằng những tên trên: hỏi Viện trước khi quyết. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện xem riêng02Mộ phần và nhà ở khác nhau thế nào?
Mộ phần là nơi chôn người đã mất, cần nối một đường với mạch đất phía sau; nhà ở là nơi người sống, có thể đón khí từ cửa và đường. Bảng 2 gom các khác biệt đã có nguồn.
| Tiêu chí | Âm trạch | Dương trạch |
|---|---|---|
| Đối tượng | Người đã mất: mộ tổ, tháp tổ, ngăn lưu cốt[1] | Người đang sống trong nhà[4] |
| Mục đích sách nêu | Cốt gốc được khí, thân con cháu được hưởng ấm[5] | Người và nhà nương nhau[4] |
| Đường khí | Phải nối một đường với mạch đất phía sau[2] | Lấy khí nổi làm chủ, từ cửa vào hoặc theo đường dẫn tới[2] |
| Cách luận | Tìm huyệt rất hẹp, «huyệt tám thước»[3] | Xét cả «thân thể» nhà, cùng năm điều hư, năm điều thực[4] |
| Sách chính | Táng Thư, Nhân Tử Tu Tri | Trạch Kinh, Dương Trạch Xiển Yếu, Dương Trạch Chỉ Nam |
Đường khí của nhà và mộ phần khác nhau ra sao?
Sách Dương Trạch Xiển Yếu của Ôn Tự Tấn, đời Thanh, có lời chú nhỏ: «Dương trạch lấy khí nổi làm chủ, hoặc từ cửa vào, hoặc từ đường dẫn tới, đều là mạch đến; khác với âm trạch ắt phải nối một đường với mạch đến của long phía sau.»[2] Đây là lời của sách đời Thanh, không nên gán cho cổ thư sớm hơn.
陽宅以浮氣為主,或從門入,或從路引,皆來脈也,與陰宅必接後龍來脈一線者有異。
Sơ đồ đường khí theo Dương Trạch Xiển Yếu
Về độ hẹp của huyệt, sách Nhân Tử Tu Tri viết: «Long đến từ ngàn dặm, vào đầu chỉ kết thành cái huyệt tám thước», và chép câu ngạn «đất âm một đường»[3]. Muốn đọc thêm về chỗ này, xem bài huyệt mộ trong phong thủy âm trạch.
千里來龍,入首惟融八尺之穴。……陰地一線。
Với nhà ở, Trạch Kinh ví nhà như một cơ thể: «Nhà lấy hình thế làm thân thể, lấy suối nước làm huyết mạch, lấy đất đai làm da thịt, lấy cây cỏ làm lông tóc, lấy nhà cửa làm y phục, lấy cổng cửa làm mũ đai.»[4] Cần chia nhà theo cung trên sơ đồ, xem bài mặt bằng Bát Trạch.
宅以形勢為身體,以泉水為血脈,以土地為皮肉,以草木為毛髪,以舍屋為衣服,以門户為冠帶。
Trạch Kinh dùng chữ âm trạch, dương trạch theo nghĩa khác
Trong đoạn 24 lộ của Trạch Kinh, hai chữ này là hai nửa âm dương của bàn phương vị khi xét nhà ở, không phải cặp nhà và mộ[4]. Sách viết: «Kẻ chéo một đường làm ranh giới âm dương», «phàm dương trạch thì có khí dương ôm âm, âm trạch thì có khí âm ôm dương».
二十四路者,隨宅大小中院分四面。……斜分一條為陰陽之界。……凡之陽宅,即有陽氣抱陰;陰宅,即有陰氣抱陽。……陽宅龍頭在亥,尾在巳;陰宅龍頭在巳,尾在亥。
Chỗ mộ hay căn nhà của gia đình đang ở thế nào, sách không trả lời thay được: Viện khảo sát tại chỗ. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Yêu cầu Viện khảo sát03Dương cơ âm trạch là gì?
Dương cơ là từ chỉ thế đất dựng nhà người sống; âm trạch là nơi chôn người đã mất. Sách Dương Trạch Chỉ Nam có câu: «Thế đất của dương cơ, quý ở chỗ liệu lường mà định.»[8]
陽基形勢貴量裁。
Viện chỉ ghi đến đó: nghĩa của từng từ đã có nguồn như trên. Gặp cụm từ này trong lời tư vấn cho gia đình, cứ hỏi lại người nói đang bàn về nhà hay về mộ, hoặc gửi Viện để cùng xem.
04Vì sao sách cổ coi trọng mộ phần đến vậy?
Táng Thư cho rằng xương cốt được khí thì con cháu được hưởng ấm; Nho gia thêm lý do giữ yên thân xác cha mẹ, nhưng không phải ai cũng tin. Dưới đây nêu từng bên, Viện không tự hoà giải.
Táng Thư giải thích mộ phần nối với con cháu thế nào?
Táng Thư viết: «An táng là nương vào sinh khí.» Năm khí đi trong đất, phát ra thì sinh muôn vật. Về con cháu, sách viết: «Người nhận thân từ cha mẹ; cốt gốc được khí thì thân để lại được hưởng ấm.»[5]
葬者,乘生氣也。五氣行乎地中,發而生乎萬物。……人受體於父母,本骸得氣,遺體受廕。
Sách dẫn lời kinh: «Khí cảm thì ứng, phúc của người khuất đến với người sống.» Rồi nêu hai ví dụ: núi đồng phía tây lở thì chuông thiêng phía đông ứng; cây nở hoa mùa xuân thì hạt dẻ trong nhà nảy mầm. Lời chú kể ví dụ đầu qua chuyện chuông cung Vị Ương và Đông Phương Sóc[5].
經曰:氣感而應,鬼福及人。是以銅山西崩,靈鐘東應;木華於春,栗芽於室。……蓋生者氣之聚,凝結者成骨,死而獨留。故葬者,反氣入骨,以廕所生之法也。
Đoạn cuối trích trên nghĩa là: người sống là chỗ khí tụ, chỗ kết đọng thành xương, chết rồi xương còn lại; nên an táng là đưa khí trở vào xương để che chở người mình sinh ra. Sách truyền là của Quách Phác đời Tấn, nhưng tác giả bị nghi; thư mục đời Tống mới ghi sách này[6].
Lời chú: táng xương hay táng lòng người?
Bản Tứ khố của Táng Thư có lời chú nói lòng người thông với khí: «Lòng là chủ của khí; tình thông thì khí cũng thông, nghĩa dứt thì ấm cũng dứt», rồi than: «Không phải táng xương, mà là táng lòng người vậy.»[5] Đây là lời chú, không phải chính văn, nên không gán cho Quách Phác.
人之心通乎氣,心為氣之主,情通則氣亦通,義絶則廕亦絶。……嗚呼!非葬骨也,乃葬人之心也。
Trình tử, Chu Hy giữ gìn mộ phần vì đâu?
Lời chú Táng Thư dẫn Trình tử: «Bói nơi đặt mộ là bói đất ấy tốt hay xấu; đất tốt thì thần linh yên, con cháu thịnh, như vun gốc thì cành lá tươi.»[5]
程子曰:卜其宅兆,卜其地之美惡也。地美則神靈安,子孫盛,若培壅其根而枝葉茂。
Sách Nhân Tử Tu Tri dẫn lại lời Chu Hy: táng nghĩa là cất giữ di thể tổ tiên; nếu chọn không kỹ, đất không tốt, thì «ắt có nước ngầm, kiến mối, gió đất phá từ bên trong, khiến hình và thần không yên, mà con cháu cũng có nỗi lo chết chóc, tuyệt diệt»[3]. Viện dẫn qua sách ấy, chưa mở bản gốc của tấu.
葬之為言藏也,所以藏其祖考之遺體也。……其或擇之不精,地之不吉,則必有水泉蟻螻地風之屬,以賊其內,使其形神不安,而子孫亦有死亡絕滅之憂。
Tư Mã Quang bác thuyết mộ phần định họa phúc
Tư Mã Quang, trong bài ghi năm Nguyên Phong thứ 7 (1084), cũng nói việc táng xuất phát từ lòng hiếu: «Táng là cất giữ; con hiếu không nỡ để cha mẹ phơi bày, nên liệm mà cất đi.»[7]
塟者藏也,孝子不忍其親之暴露,故歛而藏之。
Nhưng ông bác sách táng đương thời. Ông nêu thuyết của họ để bác: xem hình thế núi sông, xét can chi năm tháng ngày giờ rồi cho rằng sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu, hiền ngu của con cháu đều ở đó, và «cả đời mê mà tin». Lời bác của ông: «Sang hèn, giàu nghèo, thọ yểu của người là do trời, hiền ngu là do người, vốn không dính gì đến việc táng.»[7]
今之塟書,乃相山川岡畝之形勢,考嵗月日時之支干,以為子孫貴賤貧富夀夭賢愚皆繫焉。……舉世惑而信之。……人之貴賤貧富夀夭繫於天,賢愚繫於人,固無闗預於塟。
Trạch Kinh cân mộ phần với nhà ở ra sao?
Trạch Kinh gộp hai bên vào một lý: nhà là gốc của người, ở yên thì nhà hưng, không yên thì họ suy, và «mộ phần, sông, gò cũng cùng một thuyết ấy»[4]. Sách còn dẫn Trạch Thống, tách mộ và nhà thành bốn trường hợp. Nói được rằng sách này không coi mộ là yếu tố duy nhất.
故宅者人之本,人以宅為家,居若安即家代昌吉,若不安即門族衰微,墳墓川岡,並同兹説。
| Mộ | Nhà | Sách ghi về con cháu |
|---|---|---|
| Xấu | Tốt | Có quan lộc |
| Tốt | Xấu | Không đủ ăn mặc |
| Tốt | Tốt | Vinh hoa |
| Xấu | Xấu | Bỏ quê, tuyệt giống |
墓凶宅吉,子孫官祿;墓吉宅凶,子孫衣食不足;墓宅俱吉,子孫榮華;墓宅俱凶,子孫移鄉絶種。
Trạch Kinh cũng chép lời Tử Hạ: «Người nhờ nhà mà đứng được, nhà nhờ người mà còn; người và nhà nương nhau, cảm thông trời đất, nên không thể chỉ tin vào mệnh.»[4]
人因宅而立,宅因人得存,人宅相扶,感通天地,故不可獨信命也。
Sách nêu lý, không nói mộ của gia đình bạn tốt hay xấu, cũng không nói cách xử lý cho từng trường hợp. Muốn biết thì Viện khảo sát riêng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Yêu cầu Viện khảo sát05Âm trạch sống và âm trạch mượn thọ là gì?
Âm trạch sống là cách gọi tiếng Việt, nghĩa gần với thọ tàng; âm trạch mượn thọ thì chưa tra được nguồn cổ thư. Trong các bản đã mở, Viện không thấy cụm chữ Hán tương ứng với «âm trạch sống».
Thọ tàng: mộ phần làm sẵn khi còn sống
Hậu Hán Thư chép Triệu Kỳ hơn chín mươi tuổi, mất năm Kiến An thứ 6, và trước đó «tự làm thọ tàng, vẽ tượng bốn người Quý Trát, Tử Sản, Án Anh, Thúc Hướng ở vị trí khách, lại tự vẽ tượng mình ở vị trí chủ, đều làm lời tán tụng»[9]. Sách không ghi ông xây mộ ở tuổi ngoài chín mươi.
先自為壽藏,圖季札、子産、晏嬰、叔向四像居賔位,又自畫其像居主位,皆為讃頌。
Lời chú giải thích chữ thọ: «Thọ tàng là mộ huyệt; gọi là thọ là lấy ý lâu dài, như thọ cung, thọ khí.»[9]
壽藏謂塜壙也,稱壽者取其久逺之意也,猶如壽宫壽器之類。
Wikipedia tiếng Trung có mục 種生基 (chủng sinh cơ), ghi «sinh phần, thọ phần» của người sống, chôn văn thư bát tự, quần áo, tóc, móng. Trang dùng chữ «tương truyền», không dẫn cổ thư và bị gắn thẻ cần thêm nguồn[10]. Đây là mô tả tập tục, không phải lời khuyên của Viện, và không có cổ thư đỡ.
Âm trạch mượn thọ: chưa tra được nguồn
Viện đã tìm hai chữ 生基 và 借壽 trong Táng Thư và Trạch Kinh bản Kanripo, đều không thấy; các lượt tìm web cũng không ra văn bản cổ nào. Kết luận này chỉ trong phạm vi đã tra, không có nghĩa là toàn bộ sách cổ đều không có.
Có người đề nghị làm «âm trạch sống» hay «mượn thọ» cho gia đình: nên hỏi rõ họ dựa vào sách nào, rồi trao đổi với Viện trước khi quyết. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Nhờ Viện xem riêng06Người học hay hiểu sai những chỗ nào?
Sáu chỗ dễ nhầm nhất nằm trong Bảng 4: mỗi dòng ghi cách hiểu thường gặp và điều nguồn thật sự ghi.
| Dễ nhầm | Nguồn ghi |
|---|---|
| Thấy chữ âm trạch trong Trạch Kinh là nói về mộ | Ở đoạn 24 lộ, đó là một nửa bàn phương vị khi xét nhà ở[4] |
| Sách cổ coi mộ là yếu tố duy nhất | Trạch Kinh dẫn Trạch Thống, xét cả mộ lẫn nhà[4] |
| Mọi nhà nho đều tin đất mộ định họa phúc | Tư Mã Quang bác thuyết ấy[7] |
| «Táng lòng người» là lời Quách Phác | Đó là lời chú trong bản Tứ khố[5] |
| Táng Thư chắc chắn do Quách Phác soạn | Chỉ là «truyền là», tác giả bị nghi[6] |
| Chữ thọ trong thọ tàng là kéo dài tuổi | Lời chú Hậu Hán Thư giải là lấy ý lâu dài[9] |
Ba bước tra việc của mộ phần và nhà bạn
- 1Gọi đúng tên việcTra Bảng 1, xác định đang bàn về mộ hay về nhà, cách gọi ấy có nguồn hay chưa.
- 2Đối chiếu lời sáchVề mộ: Chu Hy nêu nước ngầm, kiến mối, gió đất. Về nhà: Trạch Kinh nêu «nhà rộng người ít» là một hư, «nhà nhỏ người đông» là một thực[4].
- 3Nhờ người xem tại chỗLời sách không phải kết luận cho mộ hay nhà của bạn. Ghi lại điều thấy được và gửi Viện.
宅有五虚,令人貧耗;五實,令人富貴。……宅大人少,一虚。……宅小人多,一實。
Đã ghi được điều thấy ở mộ hay ở nhà: gửi Viện để khảo sát. Muốn tự học cách luận cho cả nhà ở và mộ phần, xem khoá Huyền Không Đại Quái hoặc lịch khai giảng. Gọi 07.6264.1331 hoặc nhắn Zalo.
Yêu cầu Viện khảo sát07Hỏi – đáp
Sách cổ có thống nhất về tác dụng của mộ phần không?
Không. Táng Thư nói xương cốt được khí thì con cháu được hưởng ấm, lời Trình tử và Chu Hy được dẫn cũng coi trọng đất mộ, còn Tư Mã Quang bác thuyết đất mộ quyết định sang hèn, giàu nghèo. Viện nêu từng bên, không tự hoà giải.
Trạch Kinh có bàn đến mộ phần không?
Có. Sách ghi mộ phần, sông, gò cùng một thuyết với nhà ở, và dẫn Trạch Thống xét mộ cùng nhà thành bốn trường hợp. Hai chữ âm trạch, dương trạch trong đoạn 24 lộ của sách lại mang nghĩa khác, nên cần đọc đúng đoạn.
Âm trạch sống có phải là chủng sinh cơ không?
Viện chỉ nói được nghĩa gần. Thọ tàng có trong Hậu Hán Thư, còn Wikipedia tiếng Trung ghi sinh phần, thọ phần ở mục chủng sinh cơ và không dẫn cổ thư. Làm hay không cho gia đình mình nên trao đổi riêng với Viện.
Chọn ngày và khoá học về mộ phần
Chọn ngày an táng thì đọc ở đâu?
Bài này không bàn ngày giờ an táng. Có thể đọc bài trạch nhật trong phong thủy để hiểu việc chọn ngày nói chung, còn chọn ngày cho một việc cụ thể thì liên hệ Viện để được tư vấn riêng.
Muốn tự học về nhà ở và mộ phần thì học khoá nào?
Khoá Huyền Không Đại Quái ứng dụng cho cả nhà ở và mộ phần. Xem trang khoá học hoặc lịch khai giảng để biết các khoá đang nhận đăng ký, rồi liên hệ Viện nếu cần chọn lớp phù hợp.
Nguồn tham khảo
- Wikipedia tiếng Trung, mục 陰宅. Xem trang.
- Dương Trạch Xiển Yếu 陽宅闡要, Ôn Tự Tấn 温自晋, đời Thanh. Bản trên Wikisource.
- Nhân Tử Tu Tri 人子須知, Từ Thiện Kế 徐善繼, Từ Thiện Thuật 徐善述, đời Minh, lời tựa đề Gia Tĩnh giáp tý (1564); các mục 一不可不知地理, 三不可侵葬祖冢. Bản trên Wikisource.
- Trạch Kinh 宅經, quyển thượng, tờ 1a–1b, 2b–3a, 5a, 5b, 6a, 7b. Bản Tứ khố, Kanripo ghi Hoàng Đế 黃帝; bản Đạo tạng 黃帝宅經 được Kanripo ghi hậu kỳ đời Đường. Bản Kanripo KR3g0019.
- Táng Thư 葬書, tờ 1a–8a, truyền là của Quách Phác 郭璞 đời Tấn; lời chú trong bản Tứ khố. Bản Kanripo KR3g0020.
- Wikipedia tiếng Trung, mục 葬書: tác giả bị nghi, thư mục đời Tống mới ghi; Thái Nguyên Định rút còn 8 thiên, Ngô Trừng chia nội, ngoại, tạp thiên. Xem trang.
- Bài của Tư Mã Quang, ghi năm Nguyên Phong thứ 7 (元豐七年, 1084), trong Tống Văn Giám 宋文鑑, bản Tứ khố, quyển 96. Bản trên Wikisource.
- Dương Trạch Chỉ Nam 陽宅指南. Bản trên Wikisource.
- Hậu Hán Thư 後漢書, Phạm Diệp 范曄, truyện Triệu Kỳ, tờ 24a của tệp quyển 94 trong bản số. Bản Kanripo KR2a0009.
- Wikipedia tiếng Trung, mục 種生基. Xem trang.
Bài chỉ ghi những gì tra được trong các nguồn trên. Bản Kanripo không chấm câu; chấm câu chữ Hán trong bài do Viện thêm. Lời sách cổ là lời của sách, không phải lời hứa về kết quả. Việc của từng gia đình cần xem tại chỗ.
