Hiện kết quả từ 1 tới 3 của 3
  1. #1
    Trợ giảng
    Tham gia ngày
    29/04/2011
    Bài gửi
    21
    Thanks
    2
    Đã được cám ơn 36 lần trong 12 bài viết

    Mật Tông Mantra (Thần chú Mật Tông)

    THẦN CHÚ HOÀ BÌNH
    Nam mô Tam Mãn Đa, Một Đà Nẩm, A Bát Ra Đế, Yết Đa Chiết, Chiết Nại Di, Án Kê Di, kế Di, dát tháp các tháp Nẩm, Mạt ngoã sơn đính, Bát ra đế, Ô Đát Ma Đát ma dát tháp, cát tháp nẩm mạt ngoã hồng phấn toá ha ( 21 lần).
    *Niệm nhiều phúc báu nhiều thì mau được thanh bình
    *Bài chú này có oai lực hàng ma, trừ tai nạn.
    *Nếu ta chú tâm tụng chú này ma quân khi nghe được rất kinh sợ, sẽ mất lòng chiến đấu giáo gươm rơi rớt.
    *Nếu đi sông biển tụng chú này được chư thần ủng hộ, đi đến nơi về đến chốn.
    *Binh sĩ tụng chú này, lúc lâm trận sẽ không bao giờ chết oan.
    *Nếu con nít khóc lóc cả đêm, tụng chú này trong nước thuốc, cho uống thì hết khóc.
    CHÚ HÀNG MA
    Ma Lệ, tỳ ma lệ, niết Ma Lệ, mông già lệ, hê ma la nhả kiệp bệ, tam mạn na, Bạt đề lệ, ta bà la dà, ta đàn ni Ba la ma tha ta đàn ni, ma na tư, a chuyết đề, tỳ la kỳ, am ma lại, đàn bà táp ma, tá lệ phú la nê, phú la na, ma nô lại đệ.
    *Đà La Ni này có thể chuyển thân nữ.
    *Tự biết túc mạng đời trước của mình.
    *Nếu thọ trì 5 điều: Phạm hạnh, không ăn cá thịt, không uống rượu, không ác tâm, thích ở vắng lặng. Rồi chí tâm tín thọ, đọc tụng, biên chép Đà La Ni này người ấy sẽ thoát khỏi 77 ức thân tệ ác
    Hàng phục các chúng ma quân
    BÀI CHÚ MA VƯƠNG CÚNG PHẬT
    Sá chỉ, trá trá la. Sá chỉ lô ha lệ, ma ha, lô Ha lệ, a lá, giá ra đa la toá ha. Bài Chú này có thể làm cho người điên cuồng, người kinh sợ, người thuyết pháp, người chẳng dứt Chánh Pháp điều được yên ổn.
    Nếu người nào thọ trì chú này mỗi ngày 100 biến, thì không còn sợ voi dữ làm hại; hoặc đi đến rừng hoang, đầm trống, những nơi nguy hiểm chẳng kinh sợ. Cũng không gập những sự tai hại nạn nước, lửa, đao binh, cọp, sói quân ác
    Thần chú của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (SAKYAMUNI Buddha):
    TAYATA: OM MUNI MUNI MAHA MUNIYE SOAHA.
    Câu chú này có khả năng tiêu diệt tội chướng.
    Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng.
    2.Thần chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (MAHAVAIROCANA Buddha):
    OM AVIRA HUM KHAM VAJRA DHATU VAM
    OM NAMO BHAGAVATE SARVA DURGATE VAR SUDHANA ADZAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA TADYATHA OM SHUDHANE SHUDHANA SARVA PAPAM BOUSHUDHANE SHOUDE BOUSHUDE SARVA GHARMAVARANA BASHUDHANAYE SVAHA

    Câu chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na có khả năng giúp khiến các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục để giúp các chúng sanh đó được thoát kiếp và được i sanh trong các cảnh giới lành.
    Khi trì tụng thì hành giả phải phát tâm từ bi nhất tâm cầu nguyện cho các lchu1ng sanh đó được thoát khỏi kiếp khổ để đợc tái sanh trong các cảnh giới lành.
    1)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí chó các loài súc sanh và ngã quỷ.
    2)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.
    3)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.
    3.Thần chú của Đức Phật A DI ĐÀ (AMITABHA Buddha):
    OM AMITABHA HRI
    Câu chú này có khả năng tiêu tội chướng, trì tụng câu chú này cũng giống như là niệm Nam Mô A Di Đà Phật.
    Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật A Di Đà trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng và hành giả phải phát nguện cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.
    Hành giả phải luôn luôn trì tụng nếu muốn được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.
    Hành giả có thể tụng chú này để cầu siêu cho người chết được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.
    4.Thần chú của Đức Phật Vô Lượng Thọ (AMITAYUS Buddha);
    OM NAMO BHAGAVATE APARIMITA AYUR JNYANA SUVINI CITTA TETSO RADZAYA TATHAGATAYA ARAHATE SAMYAK SAMBUDDHAYA TADHYATA OM PUNYE PUNYE MAHAPUNYE APARAMITA PUNNYE APARAMITA JNANA SOMBHARO PATSITE OM SARVA SAMSKARA PARISHUDDHA DHARMATE GAGANA SAMUDGATE SVABHAVA VISHUDDHE MAHANAYA PARIVARE SOHA.


    OM AMARANI JIWANTIYE SVAHA

    Hai câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.
    5.Thần chú của Đức Phật Bất Động (ASHOBYA Buddha);
    NAMO RATNA TRAYAYA OM KHAM KHANI KHAM KANI ROTSANI ROTSANI TOTANI TOTANI TRASANI TRASANI PRATIHANA PRATIHANA SARWA KARMA PARAMPARA MINAY SARWA SATO NAYTSA SOHA
    Câu chú này dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.
    Hành giả phải nhất tâm trì tụng ít nhất là 7 lần rồi thổi vào trong nước và thức ăn để bố thí cho súc sanh và chúng ngã quỷ.
    6.Thần chú của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang (BHAISAJYAGURU VAIDURYAPRABHARAJA Buddha):
    TAYATA: OM BEKANDZE BEKANDZE MAHABEKANDZE RANDZA SAMUDGATE SOHA
    Câu chú này có nhiều công năng:
    1)Sám hối tội chướng và giải nghiệp.
    2)Cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    3)Dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.
    4)Cầu giải oan kết đời trước, phá các thứ tà ma, bùa chú trấn yểm của các loài quỷ thần, tinh mỵ.
    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.
    7.Thần chú của Đức Phật Kim Cang (VAJRASATTVA Buddha):
    OM VAJRASATTVA SAMAYA MANUPALAYA VAJRASATTVA DENOPA TITHA DIDO ME BHAVA SUTO KAYO ME BHAVA SUPO KAYO ME BHAVA ANURAKTO ME BHAVA SARVA SIDDHI ME PRAYATSA SARVA KARMA SU ZAME CHITTAM SHRIYAM KURU HUM HA HA HA HA HO BHAGAVAN SARVA TATHAGATA VAJRA MAME MUNZA VAJRA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA AH HUM PHET
    *Câu chú này có nhiều công năng:
    1)Sám hối tội chướng và giải nghiệp.
    2)Cầu giả oan kết đời trước.
    Hành giả khi trì tụng thì nếu ở có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Kim Cang trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng. Hành giả phải nhất tâm trì tụng càng nhiều càng tốt.
    8.Thần chú của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (MANJUSHRI Bodhisattva):
    OM AH RA PA TSA NA DHIH
    Câu chú này dùng để phát sanh trí tuệ.
    9.Thần chú của Bồ Tát Đại Thế Chí (MAHASTHAMAPRAPTA Bodhisattva):
    ( VAJRAPANI Bodhisattva tên của Ngài Đại Thế Chí theo Mật Tông)
    OM VAJRAPANI HUM.
    Câu chú này dùng để hàng phục các thứ tà ma, quỷ quái.
    10.Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm Chuẩn Đề (AVAKOKITESVARA CUNDI Bodhisattva):
    NAMO SAPTANAM SAMYAKSAMBUDDHA KOTINAM, TADYATHA: OM CALE CULE CUNDI SOHA
    Câu chú này dùng để hàng phục các thứ tà ma, quỷ quái, và mãn các sở nguyện
    11.Thần chú của Bồ Tát Hư Không Tạng (AKASAGARBHA Bodhisattva):
    AKASAGARBHAYA OM ARYA KAMARI MAULI SOHA.
    12.Thần chú của Bồ Tát Di Lặc (MAITREYA Bodhisattva):
    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO BHAGAVATE SHAKYAMUNIYE TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA. TADYATHA : OM AJITE AJITE APARAJITE AJITAÑCHAYA HA RA HA RA MAITRI AVALOKITE KARA KARA MAHA SAMAYA SIDDHI BHARA BHARA MAHA BODHI MANDA BIJA SMARA SMARA AHSMA KAM SAMAYA BODHI BODHI MAHA BODHI SOHA.
    Câu chú này có công năng giúp hành giả được tái sanh về cõi trời Đâu Xuất để gặp Đức Bồ Tát Di Lặc.
    13.Thần chú của Bồ Tát Phổ Hiền (SAMANTABHADRA Bodhisattva):
    ADANDE DANDA PATI DANDA VARTE DANDA KUSHALE DANDA SUDHARE SUDHARE SUDHA RAPATI BUDDHA PASHYANE SARVA DHARANI AVARTANI SARVAN DHASHYA VARTANI SU AVARTANI SAMGHA PARIKSHANI SAMGHA NARGHATANI ASAMGE SAMGA PAGATE TRI ADHVASAMGATULYA ARATE PRAPTY SAVA SAMGASAMA TIKRANTE SARVADHARMA SUPARIKE SARVASATTVA RUTA KAUSHALY ANUGATE SIMHAVIKRIDITE
    Câu chú này để giúp hành giả không bị các thứ chướng ngại trên sự tu tập. Hành giả phải nhất tâm trì tụng càng nhiều càng tốt.
    14.Thần chú của Bồ Tát Dược Vương (BHAISAJYA RADJA Bodisattva):
    ANYE MANYE MANE MAMANE CHITTE HARITE SHAME SHAMITAVI SHANTE MUKTE MUKTATAME SAME AVASHAME SAMA SAME KSHAYE AKSHAYE AKSHINE SHANTE SHAME DHARANI ALOKABHASHE PRATYAVEKSHANI NIVSHTE ABHYANTARANI VISHTE ATYANTAPARI SHUDDHI UKKULE MUKKULE ARADE PARADE SHUKAKASHI ASAMASAME BUDDHAVILOKITE DHARMAPARIKE SAMGHANIR GHOSHANI BHAYABHAYA SHODHANI MANTRE MANTRAK SHAYATE RUTE RUTA KAUSHALYE AKSHAYE AKSHAYAVA NATAYA ABALO AMANYA NATAYA.
    Câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Hành giả phải nhất tâm trì tụng. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.
    15.Thần chú của Bồ Tát Địa Tạng (KSITIGARBHA Bodhisattva):
    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO ARYA KSITIGARBHA BODHISATTVAYA MAHASATTVAYA TADYATH KSAM BHU KSAM BHU KSUD KSAM BHU AKASA KSAM BHU VAKRA KSAM BHU AMBARA KSAM BHU VIRA KSAM BHU VAJRA KSAM BHU ALOKA KSAM BHU DAMA KSAM BHU SATYAMA KSAM BHU SATYA NIRHARA KSAM BHU VYAVALOKA KSAN VA KSAM BHU UPASAMA KSAM BHU NAYANA KSAM BHU PRAJNA SAMBHUTI RANA KSAM BHU KSANA KSAM BHU VISILYA KSAM BHU SASTRAVAT KSAM BHU VYADA SU TAL MAHILE DAHILE DAME SAME CAKRASE CAKRA MASILE KSILE BHIRE HIRE GRAH SAMVARA VRATE HIRE PRABHE PRACALA VARTANE RATNA PALE CHA CHA CHA CHA HIRE MILE EKARTHA THA KHE THAKKURO THALE THALE MILE MATHE TADE KULE KU MILE SAMIRE ANGO CITTAVI ARI GIRI PRA-GIRI KUTTA SAMALE TUNGE TUNGE TUNGOLLE HURU HURU HURU KURU STU MILE MILITE SAM-M1LITALE BHANDANA HARA H1RE HURU HU RU RU BHAVA RAJA
    Câu chú này dùng để giúp cho các vong linh, chúng sanh trong súc sanh, ngã quỷ, địa ngục được siêu thoát và tái sanh trong các cảnh lành.
    16.Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm (AVALOKITESVARA BODISATTVA):
    A) NAMO RATNA TRAYATA NAMO ARYA JANA SAGARA BEROTSANA BUHA RADZAYA TATAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA NAMO SARWA TATAGATEBHYE ARHATEBYE SAMYAKSAM BUDDHEBHYE NAMO ARYA AWALOKITE SHORAYA / BODHI SATOYA MAHA SATOYA MAHA ARUNIKAYA TAYATA/OM DARA DARA DIRI DIRI DURU DURU ITTE WATE TSALE TSALE PARTSALE PARTSALE KUSUME KUSUME WARE IHLI MILI TSITI DZOLA AHPANAYE SOHA.

    B) OM MANI PADME HUM.

    C) Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm dùng để thí nước cho ngã quỉ:
    OM JNANA AVALOKITE SAMANTA PARANA RAMI BAWA SAMAYA MAHA MANI DURU DURU HRIH DAYA JALANI SOHA.
    *Các câu chú này có nhiều công năng:
    1)Sám hối tội chướng và giải nghiệp.
    2)Cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    3)Dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.
    4)Cầu giải oan kết đời trước, phá các thứ tà ma, bùa chú trấn yểm của các loài quỷ thần, tinh mỵ.
    5)Cầu cho các vong linh, chúng sanh trong súc sanh, ngã quỷ, địa ngục được siêu thoát và tái sanh trong các cảnh lành.
    *Cách thức thực hiện:
    1)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.
    2)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất, bông hoa v.v để rải trên hòm hay trên mồ mả của người chết.
    3)Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ, sông suối v.v để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.
    17.Thần Chú Phật Đảnh Tôn Thắng (USHNISHAVIJAYA Buddha);
    OM NAMO BHAGAWATE / SARWA TAYLOKYA PARTI BISHIK TAYA/ BUDDHA YATAY NAMA / TAYATHA OM DRUM DRUM DRUM SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA AHSAMA SAMENTA / AWABHASA PRANAGATI GAGANA SABAWA BISHUDAY / ABIKINTSEN TUMAM / SARWA TATHAGATA SUGATA BARABATSANA AMRITA AHBIKAYKARA MAHAMUDRA MENTRA PADAY / AHARA AHARA MAMA AHYU SAM DARANI / SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA GAGANA SOBAWA BISHUDAY / UNIKA VIJAYA PARISHUDAY SAHASA / REMI SENTSO DITAY / SARWA TATHAGATA AHWALOKINI KATHA PARAMITA PARIPURANI / SARWA TATHAGATA MATAY DASHA BUMI PARTI TITAY / SARWA TATHAGATA HRIDAYA AHDITANA AHDITITAY / MUDRAY MUDRAY MAHA MUDRAY BENDZA KAYA SAMHATANA PARISHUDAY / SARWA KARMA AHWARANA BISHUDAY PARTINIWARTAYA MAMA AHYUR BISHUDAY / SARWA TATHAGATA SAMAYA AHDITANA AHDITITAY / OM MUNI MUNI MAHA MUNI / BIMUNI BIMUNI MAHA BIMUNI/ MATI MATI MAHA MATI / MAMATI SUMATI TATATA / BATAKOTI PARISHUDAY / BIPUTA BUDI SHUDAY / HAY HAY DZAYA DZAYA BIDZAYA BIDZAYA / MARA MARA PARA PARA PARAYA PARAYA SARWA BUDDHA AHDITANA AHDITITAY / SHUDAY SHUDAY BUDDAY BUDDAY BENDZAY BENDZAY MAHA BENDZAY / SUBENDZAY BENDZA GARBA DZAYA GARBAY BIDZAYA GARBAY / BENDZA DZOLA GARBAY / BENDZOEBAWAY BENDZA SAMBHAWAY / BENDZA BENDZERNI / BENDZA MABAWATU MAMA SHARIRAM / SARWA SATO NENTSA KAYA PARI SHUDIR BAWATU / ME SADA SARWA GATI PARISHUDI TSA / SARWA TATHAGATA TSA / MAM SAMA SHASAYENTU / BUDDHAYA BUDDHAYA SIDDHAYA SIDDHAYA BODAYA BODAYA BIBODAYA BIBODAYA / MOTSAYA MOTSAYA BIMOTSAYA BIMOTSAYA / SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA / SAMENTANA MOTSAYA MOTSAYA / SAMENTA RAMIPARI SHUDAY / SARWA TATHAGATA HRIDAYA AHDITANA AHDITITAY / MUDAY MUDAY MAHA MUDAY / MAHAMUDRA MENTA PADAY SOHA.
    1)Câu chú này có khả năng giúp các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.
    2)Câu chú này còn có công năng sám hối và dứt trừ nghiệp chướng.
    3)Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.
    4)Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.
    5)Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.
    18.Thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh (Maha Prajna Paramita Hridaya);
    TAYATA: OM GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SOHA.
    Công năng của câu chú này giúp phát triển trí tuệ, Hành giả trì tụng càng nhiều càng tốt.
    CỬU HUYỀN TINH TẤN BỐ THÍ CÔNG LỰC
    OM RA RÍT MA NÁ CHẮC CA RA CHẮC CA RA HÙM ( 3 lần ).
    ĐUỔI MA NGỦ

    Phù lụ tu, a tra ni tri phù lu tu, hầu hầu hầu hầu nã phù lu tu, tô ma tê phù lu tu, hô hô hô hô tra, phù lu tu soá ha ( 108 lần )
    ( LDG: Đây là bài Chú Đuổi Ma Ngủ, chúng nó không cho bạn tu tập, bất kì khi bạn cầm đến quyển kinh hay đọc chú, chúng ám làm cho chúng ta không tỉnh táo chỉ có ngủ thôi, chúng muốn nhập tâm thể và chiếm lấy thân xác không cho chúng ta tu tập gì hết. Lúc này, bạn cần nên trì bài chú này thì sẽ giải quyết vấn đề mà bạn đang gặp phải. Nguyên do bài chú này, là do Thượng Toạ trụ trì Linh Quang Tịnh Xá, Q4, TP. HCM truyền lại cho chúng đệ tử thân cận để dễ bề tu tập.)
    6.THẦN CHÚ CHENREZIG ( QUÁN TỰ TẠI )
    OM MANI PADME HUM
    Thần Chú này dùng để phát triển lòng Từ và Bi.
    7.LỤC ĐỘ MẪU TARA CĂN BẢN CHÚ
    *Phạn Ngữ: OM TARE TUTTARE TURE SVAHA.
    *Phạn âm: Om Ta Rê Tút Ta Rê Tô Rê Soa Ha.
    *Hán Việt: Úm Đá Lị Đốt Đa Lị Đô Lị Sa Ha.
    Thần Chú này ngăn ngừa sự sợ hãi và nguy hiểm, được xem là một chơn ngôn thành tựu nhiều thần thông và là một chơn ngôn thành công chắc chắn.
    8.THẦN CHÚ VAJRASATTVA ( Kim Cang Tát Đoả ):
    OM VAJRASATTVA HUM.
    Thần Chú này dùng để tịnh hoá.
    9.THẦN CHÚ TRƯỜNG THỌ
    OM AMARANI JIWENTIYE SVAHA.
    Thần Chú này trì niệm để cầu mong sự trường thọ.
    10.THẦN CHÚ SANGYE MENLA ( Dược Sư ):
    TEYATA OM BENKANZE BEKANZE MAHA BAKANZE RAJA SAMUNGATE SVAHA.
    Thần Chú này dùng để ngăn ngừa bệnh tật.
    11.THẦN CHÚ MANJUSHRI ( Văn Thù )
    OM ARA PA CHA NA DHI DHI DHI DHI DHI.
    Thần Chú này dùng để phát triền sự thấu hiểu thông thường và tâm linh.

    Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp Ấn Đà La Ni Bằng Âm Phạn
    Arya Sarva Tathagata Adhisthana Hrdaya Guhya Dhatu Karanda Mudra Nama Dharani
    Namas Triya-dhvikanam Sarva Tathagatanam.
    Om Bhuvi Bhavana Vare Vacale Vacatai. Curu Curu, Dhara Dhara, Sarva Tathagata Dhatu Dhare Padmam-bhavati Jaya Vare Mudre Smara. Sarva Tathagata Dharmacakra-pravartana. Vajra Bodhi-manda Alam-kara Alam-krte. Sarva Tathagata Adhisthite Bodhaya Bodhaya, Bodhi Bodhi, Buddhya Buddhya, Sam-bodhani Sam-bodhaya. Cala Cala Calantu Sarvavaranani. Sarva Papa Vigate Huru Huru Sarva Soka Vigate. Sarva Tathagata Hrdaya Vajrani. Sam-bhara Sambhara, Sarva Tathagata Guhya Dharani Mudre. Buddhi Su Buddhi. Sarva Tathagata Adhisthita Dhatu Garbhe Svaha. Samaya Adhisthite Svaha. Sarva Tathagata Hrdaya Dhatu Mudre Svaha. Su-pratisthita Stupe Tathagata Adhisthite Huru Huru Hum Hum Svaha. Om Sarva Tathagata Usnisa Dhatu Mudrani. Sarva Tathagatam Sad-dhatu Vi-bhusita Adhisthite Hum Hum Svaha.


    Các bài viết tương tự:

    Lần sửa cuối bởi Linh Quang; 09-05-11 lúc 12:13 AM

  2. Có 2 thành viên đã cám ơn Linh Quang:

    caokien (23-05-12), duchaiphapminh (12-07-12)

  3. #2
    Trợ giảng
    Tham gia ngày
    29/04/2011
    Bài gửi
    21
    Thanks
    2
    Đã được cám ơn 36 lần trong 12 bài viết
    Kinh Nhứt Thiết Như Lai Tâm
    Bí Mật Toàn Thân Xá Lợi Bảo Khiếp
    Ấn Đà-La-Ni
    Phật Lịch 2541
    Như thật tôi nghe, một thời đức Phật ở tại nước Ma-Già-Đà trong vườn vô cấu ao bửu quang-minh, cùng đại Bồ Tát và đại Thanh Văn, Thiên Long, Dạ Xoa, Càn Thác Bà, A-Tu-La, Ca-Lâu-La, Khẩn-Na-La, Ma-Hầu-La-Già, người cùng phi nhân.v.v. vô lượng trăm ngàn trước sau đoanh vây nhiểu.
    Lúc bấy giờ trong chúng có đại Bà-la-môn tên là Vô Cấu Diệu Quang, đa văn thông huệ, mọi người ưa mến, thường tu hành thập thiện, quý kính tam bảo, tâm lành ân trọng, trí huệ vi tế, thường hằng muốn cho hết thảy chúng sanh được viên mãn lợi lành, giàu lớn phong nhiêu.
    Bấy giờ Bà-la-môn Vô Cấu Diệu Quang từ tòa đứng dậy, qua đến chổ Phật, nhiểu Phật bảy vòng, đem các hương hoa phụng dâng Thế Tôn Diệu y vô giá, chuỗi ngọc anh-lạc, trân châu quý giá dâng lên đức Phật, đảnh lễ hai chân rồi lui ngồi một bên mà thưa thỉnh rằng: " Cúi mong Đức Thế-Tôn và cùng các đại chúng, ngày mai buổi sáng, đến vào nhà con, thọ sự cúng dường cửa con."
    Lúc bấy giờ Đức Thế-Tôn lặng thinh hứa khả và Vô Cấu Diệu Quang Bà-la-môn biết Phật thọ thỉnh liền trở về nhà, ngay trong đêm ấy rộng bày thi thiết trăm vị ăn uống cao lương mỹ vị, lau quét điện đường, treo các tràng phan, bảo cái, đến sáng xong rồi cùng các quyến thuộc cầm các hương hoa và các âm nhạc đến chổ Đức Như-Lai mà bạch Phật rằng :
    " Đã đến giờ cúi mong Ngài giáng lâm." Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nhỏ nhẹ dặn dò, an ủi Bà-la-môn Vô Cấu Diệu Quang kia và bảo khắp đại chúng và tuyên bố rằng :
    "Các ông đều nên qua đến nhà Bà-la-môn kia để nhiếp thọ sự cúng dường vì muốn cho Bà-la-môn này được đại lợi ích."
    Nói thời ấy, Đức Thế-Tôn liền từ tòa đứng dậy, vừa đứng khỏi tòa, từ thân Phật tuôn ra các thứ hào-quang sáng, các sắc mầu nhiệm xen nhau chiếu soi làm kinh-động mười phương và kỉnh giác hết thảy nhiên hậu mới đi. Lúc ấy Bà-la-môn đem lòng thành kính, cầm các hương hoa mầu nhiệm, cùng các quyến thuộc và thiên long bát bộ, Thích Phạm, Tứ Vương đi trước sửa sang đường sá phụng dẫn Như-Lai.
    Bấy giờ Đức Thế-Tôn, trước đường không xa, đến trong một khu vườn gọi là Phong tai. Trong vườn kia, có một cổ tháp xưa hư nát, rơi rớt, gai gốc mọc đầy, cỏ cây che lấp, cửa nẻo gạch ngòi vùi lấp đường như gò đất. Bấy giờ Đức Thế-Tôn dòi gót, bước qua chỗ tháp. Trên tháp phóng đại hào quang chiếu sáng rực rỡ, nơi trong đất phát ra tiếng khen ngợi rằng : "Lành thay, lành thay, Thích Ca Mâu Ni ngày nay đã làm cực thiện cảnh giới lại nữa Bà la-môn : ông nơi lành". Bấi giờ Đức Thế-Tôn lể tháp mục kia, nhiểu quang ba vòng, cởi y trên thân phủ lên tháp ấy, đôi mắt rơi lệ, khóc rồi ngài mỉn cười. Đương khi ấy mười phương chư Phật xem thấy cũng đều rơi lệ và phóng hào quang đến chiếu nơi tháp ấy. Thấy thế Đại chúng kinh ngạc đổi sắc, cùng nhau cầu Phật giải điều nghi ấy. Bấy giờ Kim Cang Thủ Bồ Tát cũng đều rơi lệ oai quang hừng hẩy như lủa đỏ, cầm chày múa quanh, qua đến chỗ Phật, bạch Đức Thế-Tôn rằng : "Nhơn duyên này thế nào mà hiện ánh tướng hào quang ấy? Cớ chi Đức Như Lai rơi lệ như thế? Mười phương chư Phật cũng lại có điềm hào quang tướng sáng hiện tiền. Cúi mong Đức Như-Lai đối với đại chúng này mà giải nghi cho." Bấy giờ Đức Phật dạy:
    "Này Kim Cang Thủ: Đại toàn thân xá lợi của Như Lai tích chứa trong bảo tháp này. Tất cả Như Lai vô lượng cu chi Tâm Đà-La-Ni mật ấn pháp yếu nay ở tại trong ấy. Này Kim Cang Thủ : vì có pháp yếu này ở tại trong đó cho nên tháp này biến làm trùng điệp câu chi trăm nghìn thân Như Lai nhóm từ trong đó. Cho đến tám vạn bốn nghìn pháp uẩn cũng tại trong đó, ngàn vạn cu chi Như Lai đảnh tướng cũng ở trong đó trùng điệp như hạt mè nối nhau. Do việc mầu nhiệm ấy cho nên chổ tháp này có đại thần nghiệm thù thắng oai đức, hay mản tác cả vui mừng lành tốt trong thế gian."
    Bấy giờ đại chúng nghe Phật ngài nói đều xa lìa được trần cấu, dứt các phiền nảo, đắc pháp nhản tịnh bao nhiêu chúng bấy giờ được lợi ích khác nhau. Có người chứng được tu đà hoàn quả, A-na-hàm, A la hớn quả, có kẻ chứng được Bích-chi Phật, Bồ Tát, A-bệ-bạc-trí ( Bồ-tát bất thối ) Tác-bà nhả trí ( Nhất thiết trí ) rồi lại có vị chứng được Sơ-địa Nhị-địa cho đến Thập-địa, hoặc có vị đầy đủ sáu Ba-la-mật. Bà-la-môn kia cũng lìa được trần cấu và chứng ngủ thần thông. Bấy giờ Kim Cang Thủ thấy việc đặc biệt ít có này bạch đức Phật rằng: "Thật mầu nhiệm thay, thật là lạ thay! Chỉ nghe việc này mà còn chứng hoạch công đức thù thắng như thế, huống nữa nghe được thâm lý, chí tâm khởi lòng tin thì đắc biết bao là công đức!". Phật dạy: "Này ông Kim Cang Thủ, ông hãy lắng nghe:
    Đời sau nếu có kẻ trai lành người gái tín và bốn bộ đệ tử của ta: Phát tâm chép viết một cuốn kinh này, tức là đồng bằng chép viết chín mươi chín trăm nghìn vạn cu chi hết thảy kinh điển của Như Lai đã nói và cũng được tất cả các đức Như Lai gia trì hộ niệm thương yêu như đôi tròng mắt, cũng như mẹ hiền thương con trẻ. Nếu người đọc tụng một quyển kinh này liền bằng đọc tụng quá khứ, hiện tại, vị lai kinh diển của chư Phật. Do như thế đó nên chín mươi chín trăm nghìn vạn cu chi hết thảy Như Lai ứng chánh đẳng giác kín khắp không chổ hở cũng như hạt mè trùng điệp đến đây. Ngày đêm hiện thân gia trì cho người tu hành. Vô số hằng hà sa hết thảy các đức Như Lai như thế trước tụ tập chưa đi, số sau trùng điệp mà đến, phút chốc đi rồi trở lại, thí như cát nhỏ ở tại dòng nước xoáy không lúc nào dừng nghỉ. Nếu có người lấy hương hoa, tràng hoa hay y phục mầu nhiệm trang nghiêm đầy đủ để cúng dường kinh này, cũng như trước mười phương chín mươi chín trăm nghìn vạn cu chi Như Lai kia mà cúng dường hương hoa của chư thiên. Y phục trang nghiêm đầy đủ bảy báu chứa đầy núi tu di đem cúng dường. Phước lành hai bên đều giống nhau không khác."
    Lúc bấy giờ, thiên long bát bộ, người cùng phi nhơn nghe lời nói ấy rồi, mỗi mỗi đều ôm lòng hy hửu lạ thay cùng nhau nói lên rằng: "Lạ thay oai đức đống đất củ này thần lực của Như Lai đã gia trì cho nên có thần biến." Kim Cang Thủ lại bạch Đức Phật rằng: "Kính thưa Thế-Tôn, vì nhân duyên gì mà thất bảo tháp lại hiện làm đống đất?"
    Phậy dạy: "Này Kim Cang Thủ! Đây không phải là đống đất mà là thù diệu đại bảo tháp vậy. Do nghiệp quả của các chúng sanh kém thiếu cho nên ẩn che mà không hiện. Do tháp ẩn chư toàn thân Như Lai không thể hủy hoại, chẳng lẻ Kim Cang tạng thân của Như Lai mà có thể hoại sao? Sau khi ta diệt độ, đời mạc pháp gặp thời bức bách, nếu có chúng sanh nào tập hành phí pháp đáng đọa địa ngục, không tin tam bão, không trồng căn lành, vì nhơn duyên đó nên Phật pháp phải ẩn mất. Tuy thế mà tháp cũng vẫn bền chắc không hoại diệt. Tất cả thần lư6c của Như Lai đã gia trì, chúng sanh vô trí bị hoặc chướng che lấp, luống uổng trân bảo mà không biết xử dụng. Vì việc ấy cho nên ta rơi lệ, các Đức Như Lai kia cũng đều rơi lệ.: Lại nữa Phật dạy: "Này Kim Cang Thủ! Nếu có chúng sanh chép viết kinh này để trong tháp, tháp đó tức là Kim Cang Tạng suất đổ ba của hết thảy Như Lai, cũng là Tâm-Đà-La-Ni bí mật gia trì, suất đổ ba của hết thảy Như Lai tức là chín mươi chín trăm ngàn vạn cu chi Như Lai. Suất đổ ba cũng là Phật đảnh, Phật nhản tức là hết thảy Như Lai đại thần lực gia hộ.
    Nếu trong Phật tượng, trong tháp nhiều từng mà an trí kinh này, tức như tượng kia do bảy báu mà thành linh nghiệm ứng tâm không nguyện gì mà không viên mản. Với tháp báu ấy dùng tán cái lọng tàn, hoặc màng trướng, hoặc luân đường, hoặc mâm đồng cúng dường, hoặc chuông, hoặc linh trang sức tùy sức bày biện bốn bên, hoặc thổ hoặc mộc, hoặc đá hoặc gạch do oai lực của kinh tự thành thất bảo. Hết thảy Như Lai đối với kinh điển này thêm phần oai lực cho tháp kia.
    Lấy lời thành thật gia trì không ngừng nghỉ. Nếu có hữu tình đối với tháp này dùng một cây hương, một cành hoa lể bái, cúng dường thì tám chục ức kiếp trọng tội thảy đều tiêu diệy, sống khỏi tai ương, chết sanh cỏi Phật. Nếu cò hữu tình đáng đọa Địa-ngục A-tỳ; nếu đối với tháp này một phen lể bái, một lần hửu nhiểu cửa địa ngục đóng bít, đường Bồ-đề mở thông. Nơi chổ tháp và hình tượng thần lực của tất cả Như Lai đã gia hộ. Chổ ấy không bị gió bảo, chớp nhán sấm sét làm hại, không bị độc xà, rắn rít bồ cạp, độc trùng, độc thú làm tổn thương, không bị sư tử, voi điên, cọp beo, dã cang, ong nhện làm thương hại, cũng không bị dược xoa, la sát, bộ đa ma, tỳ xá gia, ly mỵ, vọng lượng điên cuồng lo sợ, cũng không bị tất cả bịnh lạnh nóng, bịnh ghẻ lở, ghẻ ung thư, ghẻ phỏng, ghẻ hờm, lác hủi làm nhiểu bịnh. Nếu có người tạm thấy tháp này thì có thễ trừ các tai nạn. Chổ ấy cũng không có người ngựa, lục súc, đồng tử, đồng nữ, các hoạn dịch bịnh, không bị hoạch tử yểu vong, không bị trộm cướp oán thù xâm hại, cũng không bị lo buồn đói khát thiếu thốn, ếm mị trù rủa. Không thể rình tìm hảm hại. Tứ đại Thiên vương cùng các quyến thuộc ngày đêm hộ vệ. Hai mươi tám bộ đại dược xoa tướng, Nhựt nguyệt ngủ tinh, trang vân tuệ tinh ngày đêm hộ trì. Tất cả long vương cho thêm tinh khí, thuận thời mưa xuống, tất cả các chư thiên cùng đao lợi thiên ba thời giáng đến để mà cúng dường. Tất cả chư thiên ba thời vân tấp, ca ngâm triều nhiểu lể tạ chiêm ngưởng. Thích đề hoàn nhơn cùng các thiên nữ ngày đêm ba thời giáng xuống cùng dường. Chổ kia tức là hết thảy Như Lai hộ niệm gia trì. Vì trong tháp dể kinh này nên được như thế. Nếu có người làm tháp lấy đất đà, cây, vàng bạc, đồng chì, chép thần chú nầy để trong ấy, vừa an trí rồi tháp kia tức thành bảy báu, trên dưới thềm bực lộ bày dù lọng, chuông linh, luân đường thuần là bảy báu. Tháp kia là hình tướng bốn phương Như Lai, do pháp yếu đó nên hết thảy Như Lai kiên trụ hộ trì ngày đêm không rời. Tháp bảy báu kia là Diệu Bảo Tàng toàn thân xá lợi. Vi Oai lực của thần chú vọt cao, cao đến cung A-Ca-Ni trà thiên mà trong chổ tháp đứng trơ trọi. Tất cả chư thiên ngày đêm chiêm ngưởng thủ hộ cúng dường. Kim Cang Thủ thưa rằng: "Vì nhơn duyên gì mà tháp này thú thắng công đức như thế?" Phật dạy: "Phải biết là nhờ thần lực bảo kiếp ấn Đà-La-Ni này" Kim Cang Thủ thưa rằng: "Cúi mong Đức Như Lai thương xót chúng con nói Đa-La-Ni ấy."
    Phật dạy: "Hãy lắng nghe suy nghĩ, chớ nên quên làng! Hiện tại vị lai hết thày Như Lai quang nghi phân thân qua khứ chư Phật toàn thân xá lợi đều ở tại Bảo Kiếp ấn Đà-La-Ni, là chổ ba thân của các đức Như Lai cũng ở tại trong ấy."
    Lúc bấy giờ đức Thế-Tôn liền nói Đà-La-Ni rằng:
    Na Ma Tác Đát Lị Dã, Địa Vĩ Ca Nẩm Tát Bà Đát Tha Nghiệt Đa Nẩm Úm Bộ Vĩ Bà Phạ Na Phạ Lị, Phạ Dã Lê, Phạ Dã Trai, Tô Rô Tô Rô Đà Ra Đà Ra Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa, Đà Đổ Đà Lê Bát Na Mẩm Bà Phạ Đế Nhạ Dã Phạ Lê. Mẩu Đát Lê Tát Ma Ra Đát Tha Nghiệt Đa. Đạt Ma Chước Ca Ra Bát La Mật Lật Đa. Na Phạ Nhật La Mạo Địa Mản Noa, Lăng Ca Ra, Lăng Hật Rị Đế Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa Địa Sắc Sỉ Đế. Mạo Đà Giả, Mạo Đà Giả, Mậu Địa Mâu Địa, Một Đình Giả Một Đình Giả. Sám Mạo Đà Nể Sám Mạo Đà Giả, Giả Lả Giả Lả. Giả Nại Đô Tát Phạ Phạ Ra Nỏa Nể, Tát Phạ Bá Ba Vĩ Nghiệt Đế. Hô Rô, Hộ Rô Tát Phạ Thú Ca Nhị Nghiệt Đế. Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa. Hất Rị Ra, Tam Bà Ra, Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa. Ngu Hế Giả Đà Ra ni Mẩu Niết Lê, Ra Một Duệ, Tô Một Đệ, Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đa Hật Phạ Hạ. Tô Bát La Để Sắc Sỉ Đa Tát Đổ Bế Đát Tha Nghiệt Đa Địa Sắc Sỉ Đế. Hộ Rô Hộ Rô Hồng Hồng Ta Phạ Ha.
    Úm Tát Phạ, Đát Tha Nghiệt Đa, Ổ Sắc Xỉ Sa Đà Đổ Mẩu Nải Ra, Ni Tát Phạ Đát Tha Nghiệt Đơn Ta Đà Đổ Vỉ Bộ, Sử Đa Địa Sắc Sỉ Đế Hồng Hồng Ta Phạ Ha. ( Tụng 7 hoặc 21 lần )
    Lúc bấy giờ, Phật nói thần chú ấy rồi, chư Phật Như Lai, từ trong đống đất phát ra tiếng khen rằng: "Lành thay ! Lành thay ! Thích Ca Thế Tôn, vì lợi ích chúng sanh không nơi nương tựa mà xuất thế trong đời ác trược để diễn nói pháp sâu mầu, pháp yếu như thế cửu trụ ở thế gian, nhiều lợi ích rộng lớn, an ổn khoái lạc."
    Bấy giờ Phật dạy Kim Cang Thủ rằng: "Hãy lắng nghe pháp yếu như thế, thần lực vô cùng, lợi ích vô biên, thí như trên cây có treo ngọc Như ý Bảo châu thường mưa tất cả trân bảo, mãn tất cả mong cầu. Ta nay chỉ lược một phần trong vạn phần, ông nay nên nhờ trì vì lợi ích hết thảy. Nếu có người ác chết đọa địa ngục, thọ khổ vô gián, không có ngày ra khỏi, nếu có con cháu của người ấy xưng tên của vong nhơn, tụng thần chú ở tren vừa mản bảy biến, thì ở địa ngục nước đồng sôi, hòn sắc nóng bổng nhiên biến thành ao nước mát. Có tám thứ công đức, liền sanh hoa sen đỡ chân người ấy, tàng báu che đầu. Cửa địa ngục phá nát, đạo bồ đề khai mở, hoa sen kia bay thẳng về thế giới Cực Lạc, Nhứt thiết chủng trí tự nhiên hiện phát, vui sướng vô cùng, được ngôi vị bổ xứ.
    Lại có chúng sanh tội báo sâu nặng trăm bệnh chiêu nhóm đến thân, tâm thần đau khổ bức bách. Tụng thần chú này hai mươi mốt biến, trăm bệnh vạn nảo một thời tiêu diệt, thọ mạng diên trường phước đức vô lậu.
    Nếu có người vì nghiệp đời trước xan tham cho nên sanh trong nhà bần cùng áo không đủ che thân, cơm không đủ no miệng, ốm gầy xấu xí, mọi người ghét mắng. Người ấy xấu hổ vào núi bẻ những hoa thơm đặc biệt, hoặc mài cây mục để lấy hương thơm, qua đến tháp ( tháp để kinh này ) lể bái cúng dường, nhiểu quanh bảy vòng rơi lệ hối lổi. Do sức thần chú và oai Đức của tháp diệt được quả báo nghèo cùng, thoạt đến giàu sang bảy báu tuông như mưa không còn thiếu thốn. Lúc này chỉ nên cúng dường Phật pháp và bố thí cho kẻ nghèo cùng, nếu còn xan lẩn tích chứa thì tài bảo tử nhiên mất.
    Nếu có người vì muốn trồng căn lành tùy phần tạp tháp hoặc bùn hoặc sành, tùy sức bày biện lớn như trái yêm ma cao bốn lớng tay, chép viết thần chú an để trong tháp kia.
    Khi an để xong đem hương hoa dâng, lể bái cúng dường, nhờ chú lực kia và lòng tín thành từ trong tháp nhỏ xuất ra mùi đại hương thơm kia trùm che như mây trời, hào quang chu biến khắp pháp giới. Mùi thơm xông ngát, ánh sáng chiếu diệu, rộng lành Phật sự đã được công đức như trên đã nói.
    Tóm lại mà nói, không có nguyện gì mà không viên mãn. Nếu có bốn chúng để tử, trai lành gái tín trong đời pháp, vì đạo vô thượng tận lực tạo tháp an trí thần chú, chổ được công đức nói không thể hết.
    Nếu có người cầu phước đến chổ tháp kia đem một cành hoa thơm, một nén hương quí, lể bái cúng dường, nhiểu quanh hành đạo, do công đức ấy quan chức quyến cao không cầu mà tự đến, sống lâu giàu có không mong mà tự tăng, oan gia trộm cướp không đánh mà tự chạy, oán niệm trù rủa không ếm mà trở về gốc. Dịch bệnh tà khí không lánh mà tự tránh, chổn hiền vợ thảo không cầu mà tự được, trai hiền, gái đẹp không cầu mà tự sanh. Tất cả sở nguyện tùy ý đẩy đủ.
    Nếu những loài chim quạ, sẻ, tu hú, cú, bồ câu lâm li, chó sói, dã can, muổi mòng, kiến, ruồi chạm đến hình tháp, đạp cỏ trên nền tháp, liền phá được các hoặc chướng, giác ngộ vô minh, liền nhập vào cỏi Phật lảnh thọ pháp tài, huống là những người hoặc thấy hình tháp, hoặc nghe tiếng chuông khua, hoặc nghe danh tháp kia tội chướng thảy đều tiêu diệt, sở cầu như ý, hiện đòi an ổn, hậu sanh cực lạc, hoặc có người tùy sức lấy một hòn đá kê chổ tháp bi. nghiêng do công đức này, tăng phước diên trường thọ mạng, sau khi mạng chết thành chuyển luân vương.
    Nếu sau khi ta diệt độ, bốn chúng để tử đối nơi trước tháp, muốn cứu giúp cỏi khổ thì nên cúng dường hương hoa, chí tâm phát nguyện tụng niệm thần chú, vân vân, cú cú phóng đại quang chiếu xuất đến tam đồ khổ sở đều tiêu, chúng sanh ấy thoát khổ, mần Phật liền sanh, tùy ý vãng sanh mười phương tịnh độ.
    Nếu có người đi thẳng lên chót núi cao chí tâm tụng chú, tầm mắt phóng đến chổ nào như núi, hang, rừng, đồng suối, hồ sông, biển, trong ấy đã có những loài lông mao, lông vũ, vảy, vi sừng gạt đều tan hoặc chướng, giác ngộ vô minh hiển hiện ba món Phật tánh, rốt ráo an ở trong cỏi đại niết bàn.
    Nếu cùng người trì chú qua đến đạo lộ hoặc gió thổi chạm y, hoặc chân đạp trên dấu chân người kia, hoặc chỉ thấy mặt, hoặc tạm lời nói nhau, hết thảy người được gặp như thế trọng tội đều tiêu diệt, tất địa viên mãn.
    Lúc bấy giờ, Phật bảo ngài Kim Cang Thủ rằng: "Nay kinh điển bí mật thần chú này giao pho cho các ông, hãy tôn trọng hộ trì lưu bố trong thế gian, khiến cho sự truyền thọ đối với chúng sanh không được đoạn tuyệt."
    Kim Cang Thủ thưa rằng: "Con nay may mắn được Đức Thế-Tôn giao phó, cúi mong Đức Thế-Tôn, chúng con vì muốn báo thâm trọng ân đức của Đức Thế-Tôn, ngày đêm hộ trì lưu bố, tuyên dương hết thảy cho dân gian.
    Nếu có chúng sanh viết chép thọ trì, nhớ niệm không quên mất, chúng con sẽ sai khiến Thích, Phạm, tứ vương, long thần bát bộ ngày đêm thủ hộ không tạm bỏ rơi người trì chú này."
    Phật dạy: "Lành thay Kim Cang Thủ! ông vì tất cả chúng sanh ở đòi vị lai rộng làm đại lợi ích cho nên hộ trì pháp này khiến không đoạn dứt."
    Bấy giờ Đức Thế-Tôn nói bảo kiếp ấn Đa-La-Ni, rộng làm Phật sự. Nhiên hậu qua nhà Bà-la-môn kia thọ các món cúng dường, khiến thòi bấy giờ nhơn thiên thâu hoạch được đại phước đức.
    Bấy giờ đại chúng tỳ khưu, tỳ khưu ny, ưu bà tắc, ưu bà di, thiên long, dạ xoa, càn thác bà, a-tu-la, ca lâu la, khẩn na la, ma hầu la già, người cùng phi nhơn v.v.... đều đại hoan hỷ, tín thọ phụng hành.

    Đây là thần chú bảo khiếp ấn đà la ni .
    Nên in ra và bỏ vào tháp ...
    [Bạn phải đăng ký và kích hoạt mới xem được link. ]
    Nguyện cho tất cả chúng sanh biết được lợi lạc vô biên của Thần chú này .

    mình có thêm một hình chia sẽ với các bạn tham khảo
    [Bạn phải đăng ký và kích hoạt mới xem được link. ]

    Nghi quỹ nhập Đạo tràng Trì chú Chuẩn Đề

    Bộ “Nghi quỹ nhập Đạo tràng Trì chú Chuẩn Đề” nầy do Thầy Thích Viên Đức lúc còn sanh tiền, đã soạn ra và rộng truyền cho toàn thể các Phật tử hoặc những hành giả hành trì Pháp Chuẩn Đề và chọn Ngài làm Bổn tôn của mình. Vì thấy Nghi quỹ nầy vẫn còn hữu ích cho tất cả những ai muốn chọn Tông giáo của Như Lai Đại Nhật làm con đường đi trên cuộc đời vô thường, lấy Hữu vào Vô- để lợi ích cho mình và mọi người. Chúng tôi đánh máy lại nguyên văn theo bản chánh mà Thầy đã trao cho tại Chùa Thiền Tịnh, Thủ Thiêm ( Thủ Đức ) và xin được phép phổ biến Bộ Nghi nầy. Cầu xin rằng Bộ Nghi quỹ nầy được truyền tay cho những ai hữu duyên,vì lợi ích “sanh tử đại sự” có thể download và in ra để hành trì mỗi ngày.
    Kính bạch Giác Linh Thầy! Để tưởng nhớ đến công hạnh của Thầy lúc còn tại thế đã cố công truyền bá Mật giáo tại Việt Nam, con- một Phật tử đã hữu duyên cầu Pháp với Thầy, đã và đang đem hết tâm lực của một hành giả để góp một bàn tay nhỏ nho trong việc phổ biến tâm mật nầy- xin được đốt nén hương và đảnh lễ Thầy.
    I.- NGHI THỨC CHUẨN BỊ VÀO ĐẠO TRÀNG :
    1- Tắm : Khi tắm, đọc kệ và Thần chú sau :
    Rửa sạch thân thể. Nguyện cho chúng sanh.
    Thân tâm đều sạch. Trong ngoài thanh tịnh
    Om- Bạt chiết ra não ca tra xoa ha ( 3 lần )
    2- Rửa tay :
    Lấy nước rửa tay. Xin nguyện chúng sanh
    Có bàn tay sạch. Giữ gìn Pháp Phật
    Om- chủ ca ra da xoa ha ( 3 lần )

    3- Rửa chân : Khi rữa chân, trước đọc kệ và chú như vầy :
    Khi đang rữa chân. Xin nguyện chúng sanh
    Đầy đủ thần lực. Mọi việc không ngại
    Om- lam xoa ha ( 3 lần )
    4- Rửa mặt : Khi lấy nước rửa mặt, tụng như sau :
    Lấy nước rửa mặt. Xin nguyệân chúng sanh
    Đượcï pháp môn tịnh. Lìa khỏi cấu nhiễm
    Om- lam xoa ha ( 3 lần )
    5- Súc miêng : Khi lấy nước súc miệng, tụng như sau :
    Rửa miệng, lưỡi trong sạch. Nước dơ thành hương hoa
    Ba nghiệp luôn thanh tịnh. Về phương Tây cùng Phật
    Om- Hảm Om Hán xoa ha ( 3 lần )
    6- Tổng tẩy uế : Khi làm pháp Tổng tẩy uế, dùng Giải Uế Pháp Ấn Chú Ôsô-sa-ma.
    Ấn : Lấy 2 ngón tay câu nhau trong lòng bàn tay, 2 ngón vô danh, ngón giữa, ngón trỏ đứng thẳng. Lấy 2 ngón tay cái mở rộng để trong lòng bàn tay trên 2 ngón tay út, chắp cổ tay lại. Tụng Thần chú :
    Om- Tu rị ma rị, ma ma ri ma rị, tu tu rị xoa-ha ( 7 lần )
    Để Ấn Chú nầy gia trì trong nước 7 lần rồi rửa mặt, nhiên hậu mới trì các Thần Chú Pháp v.v…Người tu hành Chú Pháp, nếu thấy tử thi hoặc đàn bà sanh sản, hoặc chỗ lục súc sanh sản, hoặc chỗ máu mủ dơ chảy. Khi thấy những thứ do uế như vậy, tức kết khế Ấn, tụng ngoại uế chú, liền được thành tựu. Chỗ tu hành các Pháp thảy đều có hiệu nghiệm. Nếu không như vậy, khiến người mất linh nghiệm, và bị ương hại, trên mặt sanh ghẻ. Do đó, ngoại uế Thần chú quyết không được quên vậy.
    II- Phần lập Đạo Tràng :
    1- Đăng Đạo tràng :
    Khi lên Đạo tràng, đứng trước Tôn Tượng, tụng như sau :
    Khi nhìn Đức Phật. Nguyện cho chúng sanh
    Được mắt không ngại. Thấy được chư Phật
    Om- A Mật Lật Đế Hồng Phấn Tra ( 3 lần )
    2- Tán Phật :
    Tiếp theo, tán thán công đức của chư Phật, tụng Kệ Chú như sau :
    Tán Phật tướng đẹp. Nguyện cho chúng sanh
    Được như thân Phật. Đắùc pháp Vô tướng
    Om- Mâu Ni Mâu Ni Tam Mâu Ni Xoa Ha ( 3 lần )
    3- Tịnh Pháp giới :
    Om- Lam Xoa Ha
    Để tịnh Đàn tràng, làm pháp sái tịnh như sau: Trì chú trong chén nước 21 biến, rước sái trên Đàn cho dược thanh tịnh .
    4- Tịnh Khẩu nghiệp :
    Để thanh tịnh các ác nghiệp của miệng, tụng Thần chú sau :
    Om- Tu Rị Tu Rị Ma Ha Tu Rị Tu Tu Rị Xoa Ha ( 3 lần )
    5- Tịnh Tam Nghiệp :
    Tiếp theo tụng Thần chú dưới đây để thanh tịnh 3 nghiệp: Thân – Miệng – YÙ :
    Om- Ta Phạ Bà Phạ Thuật Bà Ta Phạ Đạt Ma Ta Phạ Bà Phạ Thuật Độ Hám ( 3 lần )
    6- Phổ cúng dường :
    Tiếp theo đọc Chân ngôn cúng dường hết thẩy hoa, hương, ẩm thực lên Chư Phật như sau :
    Om- Nga Nga Nẳng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng ( 3 lầnn )
    7- Phổ Lễ :
    Tụng Chân ngôn Phổ Lễ Chư Phật như sau :
    Om- Phạ Nhựt Ra Vật ( 3 lần )
    8- Kiết giới :
    Nếu vào Đàn Chuẩn Đề thì dùng Chú Chuẩn Đề (Ngũ Bộ). Tay trái kiết Ấn Bảo Thủ bưng chén nước, tay mặt kiết Ấn Cam Lồ thư chữ Lam vào chén nước. Niệm Chú Ngũ Bộ 21 biến, kiết 10 phương giới. Ngũ Bộ Chú như sau :
    Om- Lam. Om- Xỉ Lâm. Om- Mani pát mê hùm. Om- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn đề sa-bà-ha. Bộ lâm. Hật rị ( Lưu yù : Câu chú “Hật rị” được thêm vào thành Lục Bộ chú ).
    9- Độc nghiệm hoán đảnh :
    Sau khi kiết giới đã xong, thì làm Pháp Quán đảnh như sau để khiến đọc tụng Thần chú được linh nghiệm. Lấy 1 lọ nước tịnh thủy, kiết ấn tụng Chú 21 biến, xong rải trên đỉnh đầu.
    Ấn : Hai ngón tay cái co nơi trong lòng bàn tay, xoa vịn giáp tiết giữa lóng ngón vô danh, đầu 2 ngón út đứng thẳng, 2 ngón giữa đầu cũng đứng thẳng, 2 ngón trỏ co đứng vịn xoe lưng ngón giữa tiết trên.
    Om- bộ tam mạt la, diêm, xoá ha ( 21 lần )
    10- Tốc tật thành tựu :
    Nếu muốn thành tựu hết thảy chân ngôn, trước tụng chú nầy 21 biến, tất cả thần chú mau được thành tưụ. Chân ngôn như sau :
    Om- tra tra tra ô, trí trí trí trí tra ô, tra ô, tra ô, tra ô, phạ nhật ra tát đát phạ, nhã hồng vãm hộc hật-rị hạc hồng phấn tra, hồng ( 21 biến )
    11- Lễ Phật :
    Trưóc tụng Thần chú sau đây :
    Na mô đạt xa na hồng bồ đà câu trí na hồng ô hồng hộ rô hộ rô tất đà lô dã nể ta ra bà ra tha ta đạt nễ ta bà ha.
    Tụng xong, lạy Phật 3 lạy.
    (Thần chú nầy chép từ trong Kinh Bảo Tràng Thắng, do 10 ức Bồ tát đã nói. Nếu tụng chú 1 biến, lễ Phật 1 bái thời thu hoạch được công đức bằng lễ ngàn vạn ức Đức Phật)
    12- Phụng thỉnh Đức Chuẩn Đề :
    Lễ xong, kiết Ấn Chuẩn Đề triệu thỉnh Chuẩn Đề Bổn Tôn giáng lâm Đạo tràng. Tay kiết Ấn, miệng tụng chú sau :
    Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đề cu chi nẫm đát điệt tha: Om- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề phụng thỉnh Chuẩn Đề Bổn tôn giáng lâm Đạo tràng chứng minh công đức Ta bà ha, Bộ lâm.
    13- Cúng dường hương :
    Nam mô bà ra bá bồ đà đà ra ma tăng già tả na, ma ha lị đa, bá lô chỉ đế thưóc bá ra tả bồ đề ta đá bà tả, ma ha ta đá bà tả, ma ha ca rô nễ ca tả, đát điệt tha : Đổ tỷ đổâ tỷ dà dạ đổ tỷ, bề ra bề ra ni, ta bà ha ( 3 lần )
    Tụng 1 biến chú nầy bằng lấy tất cả các thứ hương hoa cúng dường 10 vạn ức chư Phật.
    14- Nguyện hương sám hối :
    Thần chú sám hối như sau :
    Nam mô hắc ra đá na, đá ra dạ da. Na ma a rị da bá lô chỉ đê, thước bá ra dạ, bồ đề ta đá bà dạ, ma ha ta đá bà dạ, ma ha ca lô nĩ ca dã, đát điệt tha: Đổ rô đổ rô, a tây ma tây ma ha ma rị ni đỗ ba ma rị ni, đổ bề đổ bề na mồ na ma, ta bà ha .
    Trước tượng Phật hoặc tượng Bồ tát Quán thế Âm, thiêu hương phát lồ sám hối, chí tâm tụng 3 biến tức diệt tất cả tội từ vô thỉ cho đến nay. Các việc mong cầu quyết định kết quả.
    Khi vào Đàn trì chú Chuẩn Đề nên sám hối.
    Quỳ gối chắp tay, chuyên tâm định ý, tay bưng lư hương, đọc bài nguyện rằng :
    Nguyện mây hương hoa nầy
    Biến khắp mười phương cõi
    Tất cả các Phật độ
    Vô lượng hương trang nghiêm
    Đầy đủ Bồ tát đạo
    Thành tựu hương Như Lai
    * Cúng dường hương hoa rồi, đứng dậy lễ kính Tam Bảo:
    - Nhất tâm đảnh lễ Lơ Giá Na Mâu Ni Thế Tơn (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ A Súc Thế Tơn (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Bảo Sanh Thế Tơn (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Vương Thế Tơn (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Bất Khơng Thành Tựu Thế Tơn (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Cực Lạc Thế Giới A Di Đà Thế Tơn (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Thập Phương Pháp giới chư Phật Thế Tơn (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Thất Câu chi Phật Mẫu Sở thuyết Đại Chuẩn Đề Đà La Ni (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Tu Da La Tạng Nhất thiết Đà la ni mơn (1 lễ)
    - Nhất tâm đảnh lễ Tỳ Lơ Giá Na Cung điện trung Thất Câu chi Chuẩn Đề Phật Mẫu
    Bồ Tát Ma-ha-tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Di Lặc Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Hư Khơng Tạng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Kim Cang Thủ Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Trừ Cái Chướng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Vơ Năng Thắng Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Đại Thế Chí Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Nhất thiết Bồ Tát Ma Ha tát (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Ma ha ca Diếp Tơn giả Chư Đại Thanh Văn Tăng (1 lễ )
    - Nhất tâm đảnh lễ Thập phương Pháp giới Nhất thiết Tam thưà Hiền Thánh Tăng (1 lễ)
    Con- Đệ tử …………………..chí tâm sám hối những tội từ vô thỉ sanh tử đến giờ, theo ác lưu chuyển, cùng chung các chúng sanh, tạo nghiệp chướng tội, bởi tham sân si trói buộc, do thân khẩu ý tạo 5 tội vô gián và 10 nghiệp ác, tự làm, bảo người khác làm, thấy kẻ khác làm sanh lòng vui mừng, hoặc vật của tháp, vật của Tăng, tự tại phí dụng. Đối với các người sanh lòng hủy báng, thấy các bậc tu học Thanh văn, Duyên giác, Đại thừa, con ưa sanh lòng mắng chửi, khiến cho các người tu hành tâm sanh buồn phiền, thấy có kẻ nào hơn mình sinh lòng ganh ghét. Đối với pháp thí tài thí thường sanh keo kiệt, bị vô minh che lấp hoặc tâm tà kiến. Không tu nhân lành, khiến ác tăng trưởng. Ở chỗ các Phật mà khởi lên phỉ báng, những tội như vậy, Phật đều thấy biết. Con nay qui mạng, đối trước chư Phật, Bồ tát, Thánh chúng, thảy đều trình bày tội lỗi, không dám che dấu. Tội chưa làm, con không dám gây tạo, những tội đã làm, con đều xin sám hối. Nghiệp chướng đã tạo đáng đoạ tam đồ và ở chỗ tám nạn. Con nguyện đời nầy có bao nhiêu nghiệp chướng đều được tiêu diệt, đã có ác báo, đời sau không thọ. Cũng như quá khứ, hiện tại, vị lai tu bồ-đề hạnh, đã có nghiệp chướng thảy đều sám hối. Nghiệp chướng của con, nay cũng sám hối., hết thảy phát lồ, không dám che dấu. Tội đã làm, nguyện được trừ diệt, tội ác vị lai không dám tạo nữa.
    * ( Sám hối rồi, quy mạng lễ Tam Bảo )
    Con- Đệ tử…………….hết lòng vui mừng tuỳ hỷ, quá khứ hiện tại vị lai tất cả chúng sanh, tu hành bố thí trì giới, tâm huệ đã có căn lành. Con nay thảy đều tâm sanh tuỳ hỷ, do làm phước tuỳ hỷ như vậy, cho nên chắc chắn sẽ thu hoạch được quả tôn trọng vô thượng thù thắng, vô thượng vô đẳng. Lại ở quá khứ vị lai hiện tại, tất cả chư Phật Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác đã chứa nhóm vô lượng công đức, con nay chí tâm thảy đều tùy theo mà vui mừng khen ngợi.
    * ( Tùy hỷ rồi, quy mạng lễ Tam Bảo )
    Con- Đệ tử……………chí tâm khuyến thỉnh Mười phưong tất cả chư Phật Thế Tôn, nguyện được Vô thương Bồ đề. Chưa chuyển Pháp luân, con đều chí thành khuyến thỉnh chuyển Đại Pháp luân, an vui hữu tình. Mười phương chư Phật Thế Tôn muốn xả báo thân vào cõi Niết bàn, con nay cúi đầu đảnh lễ, hết lòng khuyến thỉnh trụ ở đời lâu, độ thoát và an vui hết thảy chúng sanh.
    * ( Khuyến thỉnh rồi, quy mạng lễ Tam Bảo )
    Con- Đệ tử …..hết lòng hồi hướng từ vô thỉ đến ngày nay, đối với ngôi Tam Bảo thành tựu các căn lành, cho đến bố thí cho chúng sanh một bát cơm. Lại nữa, đem hết công đức trì tụng bí mật, sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỉ, các căn lành ấy thảy đều thu nhiếp đem hồi thí cho tất cả chúng sanh, không tâm hói tiếc, là phần giải thoát căn lành đã nhiếp. Như chư Phật Thế Tôn đã thấy đã biết, không thể tính lường vô ngại thanh tịnh. Những công đức căn lành đã có như vậy, thảy đem hồi thí tất cả chúng sanh, không trụ tâm tướng, không xả tướng tâm. Con cũng như vậy, công đức căn lành, thảy đều hồi thí tất cả chúng sanh, cùng các chúng sanh đồng chứng Vô Thượng Bồ đề, được tất cả trí. Nhân căn lành nầy, lại còn xuất sanh vô lương pháp lành, cũng đều hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề. Lại như quá khứ vị lai hiện tại chư Đại Bồ Tát, khi tu hành các căn lành, công đức thảy đều hồi hướng tất cả Chủng trí. Vậy, con đã có công đức căn lành, cũng đều hồi hướng Vô Thượng Bồ Đề, các căn lành ấy nguyện cùng tất cả chúng sanh đều thành Chánh Giác. Như chư Phật ngồi nơi Đạo tràng, dưới cội Bồ Đề, không thể nghỉ bàn, vô ngại thanh tịnh, an trụ nơi Vô Tận Pháp tạng Đà-la-ni, Thủ Lăng Nghiêm Định, phá Ma Ba tuần, vô luợng binh chúng, trong một sát na thảy đều thấu rõ, nơi khoảng nữa đêm được Cam-lồ Pháp, chứng Cam lồ nghiã. Con và chúng sanh nguyện đều đồng chứng Diệu giác như vậy, cũng như chư Phật thị hiện ứng hoá, đắc Vô Thượng Bồ Đề, chuyển Diệu Pháp Luân, độ các chúng sanh.
    ( Hồi hướng rồi quy mạng lễ Tam Bảo )
    Con- Đệ tử…………..chí tâm phát nguyện; nguyện các chúng sanh hết thảy phát tâm Vô Thương Bồ Đề, thường nhớ nghĩ công đức trí tuệ của Mười phương chư Phật. Lại nguyện tất cả chúng sanh phá dứt vô minh, được thấy Phật tánh, cũng như các Đại Bồ tát, tất cả Thiên Long Bát Bộ tăng ích oai quang, ủng hộ quốc độ và nơi Đạo tràng, dẹp các ma oán, khiến con đã tu Pháp yếu bí mật của chư Phật mau được thành tựu.
    III- PHẦN NHẬP ĐÀN :
    1- Tụng 21 biến chân ngôn sau đây :
    Nam mô tất hí lị da, trụy vĩ đà nẫm, đát tha dà đa nẫm. Úm- vĩ la thời vĩ la thời, ma ha chước yết la, phạt chiết lê phạt chiết la, tát đá tát đá, ta la đế ta la đế, đát la duệ đát la duệ, tỳ đa mạt nễ, tam bàn thệ nễ, đa la mạt để, tất đà a yết lị để, lị diễm, toá ha.
    Khi tụng chú nầy, liền kết Ấn như sau : Hai tay bên trong tréo nhau, đứng thẳng 2 ngón tay trỏ, khít nhau, lấy 2 ngón tay giữa quấn vào 2 ngón tay trỏ ở trước lóng thứ nhất, mỗi ngón trỏ đứng vịn nhau, hai ngón cái giáp thẳng nhau. Kiết Ấn để ngang ngực, niệm tụng Mật ngữ. Nếu chưa nhập Đàn, không cho làm các pháp. Nên dùng chân ngôn nầy, tức sẽ được nhập vào Đàn, thì khi làm các pháp tắc không thành tội trộm Pháp.
    2- Trì Ngũ Bộ chú :
    Ngồi thế Kim cang toạ (nghiã là lấy bàn chân mặt gát lên trên vế chân trái) hoặc tuỳ ý ngồi
    cũng được. Hai tay kiết Ấn tam Muội (nghiã là lấy tay mặt duỗi ngay ra, để ngữa lên bàn tay trái, rồi 2 ngón tay cái giáp móng với nhau). Để ngang dưới rún, thân cho tề chỉnh, tâm cho an tịnh. Rồi tưởng trên đỉnh đầu ta có chữ LAM ( ) rất tròn sáng như ngọc minh châu hay như mặt trăng rằm. Khi tưởng như vậy rồi thì xả Ấn Tam Muội lên trên đảnh, tay trái kiết Ấn Kim Cang Quyền (Nghiã là lấy ngón tay cái bấm vaò ngón áp út ở giáp bàn tay, rồi 4 ngón kia nắm chặt lại hình như tay cầm cú)
    Rồi tay mặt lần chuổi mà tụng như sau :
    1- Chú Tịnh Pháp giới : ÚM- LAM
    2- Chú Hộ Thân : ÚM- XỈ LAM
    3- Chú Lục Tự Đại Minh : ÚM- MA NI BÁT NẠP MINH HỒNG
    Tụng mỗi chú 08 biến. Khi tụng xong chú nói trên, thì xả Ấn Kim Cang Quyền lên trên đảnh, rồi quỳ xuống tụng bài kệ Chú Chuẩn Đề :
    Chuẩn Đề công đức tụ
    Tịch tịnh tâm thường niệm
    Nhất thiết chư đại nạn
    Vô năng xâm thị nhơn
    Thiên thượng cập nhơn gian
    Thọ phước như Phật đẳng
    Ngộ thử Như ý châu
    Định hoạch vô đẳng đẳng
    Nam mô Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Đề Vương Bồ tát Ma-ha-tát ( 3 lần, rồi lạy ).
    Lúc lạy xong, ngồi kiết Toàn già và kiết Ấn Chuẩn Đề: Lấy ngón áp út và ngón út bên mặt cùng bên trái xỏ lộn nhau vào trong 2 lòng bàn tay, dựng 2 ngón tay giữa thẳng lên, rồi co 2 ngón tay trỏ mà vịn vào lóng đầu của 2 ngón tay giữa, còn 2 ngón tay cái thì đè trên lóng giữa của ngón tay áp út bên mặt, rồi để lên ngang ngực.
    Chí tâm tụng 108 lần Chú Chuẩn Đề và Chú Đại Luân Nhất Tự như sau :
    Nam mô Tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề Câu chi nẫm đát điệt tha: Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề Ta-bà-ha, Bộ lâm ( 108 lần )
    Muốn trì tụng nữa hoặc tùy lòng, nên tụng từ chữ ÚM trở xuống ( Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta-bà-ha, bộ lâm ) tụng ký số làm chừng như trên hoặc trì nhiều hơn nữa càng tốt. Khi niệm đủ rồi, muốn nghỉ thì xả Ấn lên trên đảnh. Kế dùng tay mặt kiết Ấn Kim Cang Quyền mà ấn theo thứ tự 5 chỗ sau đây :
    1- Trên đảnh 2- Nơi vai trái 3- Ở vai bên mặt 4- Tại ngang ngực 5- Nơi yết hầu
    Trong lúc tay ấn vào 5 chỗ ấy, thì miệng đọc Thần chú HỒNG HỒNG liên tục, chừng nào đủ 5 chỗ rồi, thôi tụng, xả Ấn trên đảnh.
    3- Phụng tống :
    Sau khi trì tụng xong, bấy giờ phải phụng tống Đức Chuẩn Đề Bổn Tôn hoàn bổn xứ. Kiết Ấn Chuẩn Đề tụng Chú như sau :
    Nam mô tát đa nẫm tam miệu tam bồ đề câu chi nẫm đát điệt tha: Úm- Chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề ta-bà-ha, bộ lâm ( 3 lần )
    Tiếp trì tụng :
    Ngã kim trì tụng Đại Chuẩn Đề
    Tức phát Bồ Đề quảng đại nguyện
    Nguyện ngã Định Huệ tốc viên minh
    Nguyện ngã công đức giai thành tựu
    Nguyện ngã thắng phước biến trang nghiêm
    Nguyện cộng chúng sanh thành Phật đạo
    Ngã tích sở tạo chư ác nghiệp
    Giai do vô thỉ tham sân si
    Tùng thân ngữ ý chi sở sinh
    Nhất thiết ngã kim giai sám hối
    A-di-đà Phật thân kim sắc
    Tướng hảo quang minh vô đẳng luân
    Bạch hào uyển chuyễn ngũ Tu di
    Hám mục trừng thanh tứ đại hải
    Quang trung hoá Phật vô số ức
    Hoá Bồ Tát chúng diệc vô biên
    Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh
    Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn
    Nam mô Tây phương Cực Lạc Thế giới Đại từ Đại bi Tiếp dẫn Đạo sư A Di Đà Phật ( 3 lần )
    Nam mơ A Di Đà Phật (108 lần)
    Nam mơ Quán Thế Âm Bồ Tát (108 lần)
    Nam mơ Đại Thế Chí Bồ Tát (108 lần)
    Nam mơ Chuẩn Đề Vương Bồ Tát (108 lần)
    Nam mơ Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát (108 lần)
    Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời
    Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại
    Diện kiến bỉ Phật A Di Đà
    Tức đắc vãng sinh Cực Lạc quốc
    - Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sinh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.
    - Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập Kinh tạng, trí tuệ như hải.
    - Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại
    Nguyện dĩ thử công đức
    Phổ cập ư nhất thiết
    Ngã đảng dữ chúng sanh
    Giai cộng thành Phật đạo

  4. Có 7 thành viên đã cám ơn Linh Quang:

    d5nguyenvan (03-02-13), dontrung (21-01-13), duchaiphapminh (12-07-12), gialoc (25-10-12), Hongson (09-05-11), mattong (11-09-11), tuvanphongthuy79 (28-05-11)

  5. #3
    Sơ nhập
    Tham gia ngày
    01/02/2013
    Bài gửi
    3
    Thanks
    0
    Đã được cám ơn 0 lần trong 0 bài viết
    Quá hay, hôm nay học tới đây thôi. Tôi phải mất cả tuần thậm chí cả tháng mới có thể hấp thu cái vừa học. Cám ơn các vị nhiều lắm

 

 

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •